Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 30/01/2020 về ly hôn 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 21/2020/HNGĐ-ST NGÀY 30/01/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 30 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 71/2019/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3296/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5263/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bùi Thi Hạnh V, nơi cư trú: Xã Đông Tác, huyện Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh H, nơi cư trú: Số 10, phố Cảnh Đại, cụm 012, phường Phúc Hưng, khu Bát Đức, thành phố Đào Viên, Đài Loan, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Bùi Thi Hạnh V trình bày:

Chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 5 năm 2015. Sau khi kết hôn, hai người sống ở gia đình chị Vân một thời gian ngắn. Sau đó anh H trở về Đài Loan, và làm thủ tục bảo lãnh cho chị Bùi Thi Hạnh V sang Đài Loan đoàn tụ. Anh chị đã làm phỏng vấn tại Văn phòng Đài Bắc Đài Loan tại Hà Nội 02 lần nhưng không được cấp visa. Từ đó đến nay, chị và anh H ít liên lạc với nhau, phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Nay nhận thấy tình cảm không còn và không còn khả năng đoàn tụ nên chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H không có con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Anh chị không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H hiện đang ở nước ngoài, sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan để tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian tiến hành phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo thời gian mở phiên tòa cho anh H.

Tại phiên tòa: Chị Bùi Thi Hạnh V có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn xin ly hôn và các bản tự khai.

Ðại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký về cơ bản đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt anh H và chị Bùi Thi Hạnh V là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào tại liệu có trong hồ sơ, có cơ sở xác định: Giữa chị Bùi Thi Hạnh V và anh H đã không liên lạc với nhau từ lâu, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Ðề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thi Hạnh V. Con chung, tài sản chung không có nên Hội đồng xét xử không phải xem xét. Chị Vân phải chịu án phí, và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thi Hạnh V và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 5 năm 2015, theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp. Anh H hiện đang sinh sống tại Đài Loan, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 40, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về kết quả ủy thác tư pháp: Theo địa chỉ mà chị Bùi Thi Hạnh V cung cấp cũng như địa chỉ mà anh H đã khai khi làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị Bùi Thi Hạnh V, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H. Ngày 09 tháng 9 năm 2019, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được kết quả ủy thác tư pháp là đã tống đạt hợp lệ cho anh H. Như vậy, anh H đã biết được việc Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Bùi Thi Hạnh V và anh. Tuy nhiên, anh H không có văn bản trả lời ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thi Hạnh V. Tại phiên tòa mở lần thứ nhất vào ngày 30 tháng 12 năm 2019, anh H vắng mặt, không có lý do, nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã hoãn phiên tòa, và ấn định ngày mở phiên tòa lần hai vào ngày 30 tháng 01 năm 2020. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[3] Về hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị Bùi Thi Hạnh V và gia đình có đủ cơ sở kết luận: Giữa chị Bùi Thi Hạnh V và anh H không có cuộc sống chung vợ chồng, vì từ sau khi kết hôn anh H quay trở về Đài Loan. Thời gian từ khi kết hôn đến nay đã năm năm, anh H không về Việt Nam lần nào để thăm lại chị Bùi Thi Hạnh V. Như vậy giữa anh H và chị Vân đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không chăm sóc giúp đ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là chính đáng, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận đề nghị xin ly hôn của chị Bùi Thi Hạnh V đối với anh H.

[4] Về con chung và tài sản chung: Theo lời khai của chị Bùi Thi Hạnh V giữa chị và anh H không có con chung và tài sản chung nên chị không yêu cầu giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thi Hạnh V là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về phí ủy thác tư pháp: Chị Bùi Thi Hạnh V phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Bùi Thi Hạnh V và anh H được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Ðiều 35, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Ðiều 147, khoản 2 Ðiều 207, Ðiều 266, khoản 1 Ðiều 273, điểm d khoản 1 Ðiều 469, điểm b khoản 3 Điều 477, khoản 2 Ðiều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thi Hạnh V được ly hôn với anh H.

2. Về nuôi con và chia tài sản: Chị Bùi Thi Hạnh V trình bày giữa chị và anh H không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thi Hạnh V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001742 ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thi Hạnh V đã nộp đủ.

4. Về phí ủy thác tư pháp: Chị Bùi Thi Hạnh V phải chịu 200.000 đồng hai trăm nghìn đồng) phí ủy thác tư pháp để tống đạt Văn bản tố tụng của tòa án cho anh H. Chị Bùi Thi Hạnh V được trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0001743 ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thi Hạnh V đã nộp đủ.

Chị Bùi Thi Hạnh V còn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp để tống đạt bản án cho anh H.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Bùi Thi Hạnh V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.

6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.


27
  • Tên bản án:
    Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 30/01/2020 về ly hôn 
  • Số hiệu:
    21/2020/HNGĐ-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hôn Nhân Gia Đình
  • Ngày ban hành:
    30/01/2020
  • Từ khóa:
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 30/01/2020 về ly hôn 

Số hiệu:21/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về