Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 10/04/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 19/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại  Sơn,  tỉnh  An  Giang,  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  thụ  lý  số 425/2018/TLST-HNGĐ ngày 24/12/2018 về việc tranh chấp “Hôn nhân và giađình, ly hôn”, theo quyết định  đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐXX-ST ngày 15/3/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Hoàng H, sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 7, ấp Thanh Niên, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Phú Hữu, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, nguyên đơn anh Trần Hoàng H trình bày: Tôi với chị Nguyễn Thị M chung sống với nhau từ năm 2010, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.ngày 14/4/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Trần Công K, sinh ngày 03/5/2011. Đến tháng 6/2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thẩm, nguyên nhân chị M có quen người đàn ông khác, không quan tâm chăm sóc giađình, mặc dù tôi và cha mẹ tôi góp ý để chị M khắc phục nhưng vẫn không thay đổi. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên tôi yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị M. Về con chung, sau khi ly hôn tôi đồng ý giao con chung cho chị Mông chăm sóc, nuôi dưỡng, tôi không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho chị Nguyễn Thị M thông báo thụ lý, thông báo hòa giải với nội dung anh Trần Hoàng H yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị M; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trần Công K, sinh ngày 03/5/2011 (hiện đang sống với chị M), sau khi ly hôn anh H đồng ý giao con chung cho chị M nuôi, không đồng ý cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị M đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu của anh H nên Tòa án lập biên bản không hòa giải được và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn; bị đơn chị Nguyễn Thị M cư trú tại ấp Phú Hữu, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị M vắng mặt, Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị M.

 [2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Anh Trần Hoàng H chung sống với chị Nguyễn Thị M từ năm 2010, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh H với chị M có thời gian chung sống hạnh phúc, có con chung. Đến tháng 6 năm 2018, anh H nhận thấy chị M không còn tình cảm, lạnh nhạt trong quan hệ vợ chồng, vì có quen với người đàn ông khác, vợ chồng đã ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân mỗi người sống mỗi nơi, không ai tới lui thăm nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị M đến Tòa để hòa giải nhằm mục đích hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng chị M vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh H nên Tòa án không thể hòa giải đoàn tụ được. Về phía anh Trần Hoàng H kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị M vì tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Hoàng H vớichị Nguyễn Thị M mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Trần Hoàng H được ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

- Về con chung: Sau khi ly hôn, anh H đồng ý giao con chung cho chị Mông nuôi, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ lúc anh H với chị M ly thân cho đến nay, cháu K đều sống với chị M, được chị M chăm sóc nuôi dưỡng và cho đi học ổn định; măt khác qua lấy ý kiến của cháu K nguyện vọng của cháu muốn sống vơi mẹ; để tránh xáo trộn về mặt tâm lý và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cháu K phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, nghĩ nên giao cháu K cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị M phải tạo điều kiện cho anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Theo anh H trình bày, quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

- Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Do anh Trần Hoàng H yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2014; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Hoàng H được ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2015, ngày 14 tháng 4 năm 2015 củaUBND thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trịpháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị M được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Công K, sinh ngày 03/5/2011, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, chị M phải tạo điều kiện cho anh H được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về quan hệ tài sản: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ghi nhận anh H xác định không có nợ chung nhưng khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh H và chị M trong thời kỳ hôn nhân thì anh Trần Hoàng H và chị Nguyễn Thị M phải liên đới trách nhiệm với tư cách là bị đơn trong một vụ án dân sự khác.

- Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Hoàng H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0014840 ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (Anh H đã nộp xong).

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 10/04/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:19/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về