Bản án 07/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 07/2020/HS-ST NGÀY 17/01/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố B (TP. B), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2019/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thủy H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 02 năm: 1989; tại: Bình Định; NĐKNKTT và nơi cư trú: Tổ M, phường L, TP. B, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Trần Văn M và bà: Trần Thị Đ; vợ: Phạm Thị Bích Ng, sinh năm 1998, trú tại: Tổ M, phường L, TP. B, tỉnh Lâm Đồng và có 01 người con tên Trần Đăng Kh, sinh năm 2019, hiện ở cùng mẹ; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 92 ngày 25/9/2014 Tòa án nhân dân TP. B xử phạt Trần Thủy H 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo khoản 1 Điều 138, khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999, chưa được xóa án tích. Bản án số 58/2018/HSPT ngày 13/6/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt Trần Thủy H 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tại bản án này đã xác định bị cáo Tái phạm; bị bắt, tạm giam từ ngày 18/10/2019 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2002; người đại diện theo pháp luật: Bà Trịnh Thị Th, sinh năm 1977; cùng trú tại: Số V, Quốc lộ 20, thôn K, xã L, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, (Anh Đ, bà Th có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Tiến Đa, sinh năm 1994 trú tại: Số J, đường T, Tổ F, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 14 giờ ngày 27/8/2019, Trần Thủy H đi bộ qua vườn cà phê của gia đình ông Trần Quốc Th, ở Tổ K, phường L, TP. B phát hiện thấy có ba xe mô tô đang dựng tại vườn cà phê, không có người trông coi. H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. H lấy trong túi quần ra một con dao gấp màu bạc trắng, làm bằng kim loại, dùng dao phá ổ khóa xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, BKS 49H1 – 31744 của anh Nguyễn Minh Đ, trú tại: Số M, Quốc lộ 20, thôn K, xã L, TP. B đang dựng tại vườn cà phê. Sau đó H đẩy xe mô tô đi ra khoảng 50m rồi nổ máy, điều khiển xe đến tiệm sửa xe Việt Hương của anh Mai Văn V, tại Thôn N, xã T, huyện B làm chủ để bán xe với giá 3.000.000 đồng. Do không đủ tiền mua xe nên anh V hẹn H quay lại sau thì H đồng ý. H điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực cầu Dây, tại Thôn S, xã L, huyện B, H dùng dao gấp mở cốp xe thì phát hiện thấy các tài sản: 01 ĐTDĐ Samsung A50, màu đen, bị nứt màn hình; 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 2USD; 01 ví da bên trong ví có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 49H1 – 31744 mang tên Nguyễn Thị Th và số tiền 76.000 đồng, H lấy số tài sản này sau đó ném ví da và con dao xuống sông. Đến 17 giờ cùng ngày, H đem xe mô tô BKS 49H1 – 31744 đến để bán cho anh V theo hẹn. Khi đang bán thì bị công an xã T kiểm tra giấy tờ và thu giữ xe mô tô.

Đi với ĐTDĐ A50 lấy được trong cốp xe, H nhờ Nguyễn Tiến Đa, trú tại: Tổ V, phường L, TP. B đi bán giúp. Đa mang điện thoại này bán cho Đỗ Tấn Trung Th, ở Thôn A, xã L, TP. B được 2.500.000 đồng. Hiện cơ quan điều tra không thu hồi được điện thoại này do anh Th đã bán lại cho khách vãng lai. Đối với số tiền có được từ việc bán điện thoại, H mua ma túy của đối tượng không rõ lai lịch và tiêu xài cá nhân hết.

Theo kết luận số 121 ngày 17/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. B xác định: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, BKS 49H1 – 31744 trị giá 15.400.000 đồng; 01 ĐTDĐ Samsung A50, màu đen trị giá 4.550.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 138 ngày 21/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. B xác định: 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 2USD trị giá 46.260 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT công an TP. B thu giữ, sau đó trả lại 01 mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, BKS 49H1 – 31744 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Th cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn D, là bố của Nguyễn Minh Đ; anh Đ yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng giá trị tài sản bị trộm cắp. Đối với ví da mà H lấy được của anh Đ và 01 con dao dùng để phá ổ khóa xe, H đã vứt tại sông Đ nên không thu hồi được.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu, không có thắc mắc khiếu nại đối với nội dung bản cáo trạng.

Bản Cáo trạng số 12/CT-VKSBL ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP. B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Thủy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Vào khoảng 14 giờ ngày 27/8/2019, Trần Thủy H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Minh Đ, tổng trị giá 20.072.260 đồng (hai mươi triệu không trăm bảy mươi hai ngàn hai trăm sáu mươi đồng). Hành vi của Trần Thủy H đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo H từ 36 đến 42 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về Dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét; buộc bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi người bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an TP. B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại bản án số 58/2018/HSPT ngày 13/6/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã xác định bị cáo Trần Thủy H “Tái phạm”, bản án này bị cáo chưa được xóa án nhưng tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác tổng trị giá 20.072.260 đồng (hai mươi triệu không trăm bảy mươi hai ngàn hai trăm sáu mươi đồng). Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định trong Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. luật.

[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Thủy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Thủy H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2019.

2/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./


4
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:07/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về