Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 22/01/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 05/2018/HNGĐ-ST NGÀY 22/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện A, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 380/2017/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1989; cư trú tại xóm 5, xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Trung H, sinh năm 1991; cư trú tại thôn 2, T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, nguyên đơn là chị Vũ Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lê Trung H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện A, Hải Phòng vào ngày 20 tháng 6 năm 2016. Sau khi kết hôn, chị về chung sống tại gia đình anh H ở thôn 2, T, xã L, huyện A, Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H mải chơi, không quan tâm trách nhiệm với gia đình. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm đánh cãi nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên hiện tại chị đã đi thuê nhà ở riêng sống ly thân với anh H. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Trung H.

Về con chung và tài sản chung: Chị và anh Lê Trung H không có con chungvà không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Lê Trung H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H để anh H đến Toà án nhân dân huyện A giải quyết việc chị N xin ly hôn nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với bị đơn đã không đến Tòa án ghi bản tự khai; không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do đã vi phạm các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]. Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Vũ Thị N vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Trung H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Vũ ThịN và anh Lê Trung H.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Tuy anh Lê Trung H không đến Tòa án, không có quan điểm về việc chị Vũ Thị N xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập xác định chị Vũ Thị N và anh Lê Trung H kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện A, Hải Phòng vào ngày 20 tháng 6 năm 2016. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, mặt khác anh H chưa quan tâm trách nhiệm đến gia đình nên vợ chồng có xảy ra xô sát. Mâu thuẫn đã được gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Vũ Thị N và anh Lê Trung H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị Vũ Thị N xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

 [3]. Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Trung H không có con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

 [4]. Về tài sản chung: Chị Vũ Thị N có quan điểm chị và anh Lê Trung H không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lê Trung H không có lời khai, vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy không có quan điểm của anh H về tài sản. Nên Tòa án không xem xét giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu, Toà án sẽ giải quyết việc chia tài sản bằng vụ án dân sự khác.

 [4]. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 147; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1 và Khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-Căn cứ Điều 6; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N được ly hôn anh Lê Trung H.

2. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Chị Vũ Thị N đã nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn theo Biên lai thu tiền số 7392 ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 22/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:05/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Dương - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về