Bản án 02/2017/KDTM-ST ngày 07/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 02/2017/KDTM-ST NGÀY 07/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2017/TLST-KDTM ngày 20/3/2017 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐXXST-KDTM ngày 02 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2017/QĐST-KDTM ngày 18 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam; địa chỉ cư trú: 108 Trần Hưng Đạo, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; người đại diện theo ủy quyền ông Hoàng Văn A, chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai, theo văn bản ủy quyền số 681/ UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 05/8/2016.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 12/3/2017 và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam ông Hoàng Văn A trình bày:

Theo hợp đồng tín dụng số 345/2016-HĐTD/NHCT500 ngày 13/4/2016, ông Nguyễn Văn A vay Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương -Chi nhánh tỉnh Gia Lai số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, định kỳ trả lãi tiền vay vào ngày 20 hàng tháng, mục đích vay vốn là buôn bán hàng nông sản. Theo hợp đồng tín dụng số 983/2016-HĐTD/NHCT500 ngày 02/8/2016, ông Nguyễn Văn A vay Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai số tiền là 50.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, định kỳ trả lãi tiền vay vào ngày 20 hàng tháng, mục đích vay vốn là để chi phí đầu tư chăn nuôi bò vỗ béo. Tổng số nợ gốc của hai hợp đồng tín dụng trên là 550.000.000 đồng

Ngân hàng cho ông Nguyễn Văn A vay có bảo đảm về tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 345/HĐTC ngày 12/4/2016 và kèm theo văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 02/8/2016 và đăng ký giao dịch đảm bảo, tài sản thế chấp gồm:

Đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 727925 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/02/2012; thửa đất số 65; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 145m2.

Đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 727908 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/02/2012; thửa đất số 66; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 145m2.

Đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 073767 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/12/2015; thửa đất số 90; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 132m2.

Đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 800069 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 06/02/2006; thửa đất số 15-C4; tờ bản đồ: QH; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 160m2.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Nguyễn Văn A đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ trả lãi như thỏa thuận nên Ngân hàng ra thông báo trả nợ lãi đến hạn và thông báo trả nợ gốc và lãi đến hạn nhưng ông A vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 11/01/2017 Ngân hàng phối hợp với chính quyền địa phương lập biên bản kiểm tra việc sử dụng vốn vay thấy ông A sử dụng vốn không đúng mục đích vì khách hàng đã rời khỏi nơi cư trú và ra thông báo chuyển nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc theo hai hợp đồng tín dụng số tiền là 550.000.000 đồng và nợ lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đến ngày xét xử sơ thẩm là 74.358.932 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 624.358.932 đồng thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai - Phòng giao dịch A. Trường hợp ông Nguyễn Văn A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 21/7/2017 các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Bản tự khai ngày 12/3/2017; thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 11/01/2017; 03 thông báo trả nợ lãi đến hạn; biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay; đơn xác nhận; văn Bản ủy quyền; hợp đồng tín dụng số 345/2016 ngày 13/4/2016; hợp đồng tín dụng số 983/2016 ngày 02/8/2016; biên bản định giá tài sản đảm bảo ngày 12/4/2016; đơn yêu cầu đăng ký thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất; hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất; 04 giấy CNQSDĐ BI 727925, BI 727908, CB 073767 và AD 800069 đứng tên ông Nguyễn Văn A.

Các tài liệu do Tòa án thu thập chứng cứ gồn: Biên bản xác minh nơi cư trú của ông Nguyễn Văn A; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/7/2017.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn A đến Tòa án tham gia tố tụng nhưng ông A không có mặt nên không có lời khai của ông A trong hồ sơ vụ án và Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa ý kiến của kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299; Điều 300 và Điều 303; Điều 463; Điều 466; Điều 467; Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam. Buộc ông Nguyễn Văn A phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai - Phòng giao dịch A toàn bộ số tiền đã vay và lãi suất tiền vay theo thỏa thuận của hợp đồng. Trường hợp ông Nguyễn Văn A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương ViệtNam theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai giải quyết buộc ông Nguyễn Văn A trả toàn bộ khoản nợ vay cùng với lãi suất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã triệu tập ông Nguyễn Văn A tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông A không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Do đó, Tòa án tiến hành theo quy định tại khoản 3 Điều 173 và Điều 179, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

2. Xét về nội dung vụ án: Qua lời khai của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Ông Nguyễn Văn A vay Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương-Chi nhánh tỉnh Gia Lai-Phòng giao dịch A theo hai hợp đồng tín dụng số 345/2016-HĐTD/NHCT500ngày 13/4/2016 và hợp đồng tín dụng số 983/2016-HĐTD/NHCT500 ngày 02/8/2016, thời hạn vay 12 tháng, định kỳ trả lãi tiền vay vào ngày 20 hàng tháng, mục đích vay vốn là buôn bán hàng nông sản và chăn nuôi bò vỗ béo. Sau khi các bên ký kết hợp đồng tín dụng ông A đã nhận đủ số tiền 500.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01 ngày 13/4/2016 và đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01 ngày02/8/2016. Tổng số tiền ông A đã nhận theo hai hợp đồng tín dụng là 550.000000 đồng.

Xét về hợp đồng vay tài sản giữa các bên được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nhưng đang thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của bộ luật này nên áp dụng Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết tranh chấp. Hợp đồng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam và ông Nguyễn Văn A là hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận kỳ hạn trả nợ, thỏa thuận lãi và thỏa thuận về mục đích sử dụng vốn vay, nhưng trong quá trình sử dụng vốn ông A không thực hiện việc trả lãi đúng quy định và không sử dụng nguồn vốn đúng mục đích là vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nên ngày 11/01/2017 Ngân hàng tiến hành lập biên bản kiểm tra xác minh sử dụng vốn vay sai mục đích và thông báo chuyển nợ quá hạn để làm căn cứ và thủ tục khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông A phải trả toàn bộ số tiền vay và lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng và Điều 467 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn A trả toàn bộ nợ gốc và lãi suất là đúng quy định pháp luật.

Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với  đất  số 345/HĐTC ngày 12/4/2016 và kèm theo văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 02/8/2016 và đăng ký giao dịch đảm bảo, tài sản thế chấp giữa các bên là các quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn A là hợp pháp, đúng về nội dung và hình thức, nên việc Ngân hàng yêu cầu trường hợp ông Nguyễn Văn A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ là đúng theo quy định tại Điều 299; Điều 300 và Điều 303 của Bộ luật dân sự 2015.

Từ những nhận định trên buộc ông Nguyễn Văn A phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai - Phòng giao dịch A toàn bộ số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng và lãi suất tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 74.358.932 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 624.358.932 đồng thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai - Phòng giao dịch A.

Trường hợp ông Nguyễn Văn A không thanh toán được khoản nợ trên, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng cùng với tiền lãi và lãi suất quá hạn phát sinh. Tài sản thế chấp gồm:

Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 727925 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/02/2012; thửa đất số 65; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 145m2. Trên đất không có tài sản.

Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 727908 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/02/2012; thửa đất số 66; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 145m2. Trên đất không có tài sản.

Đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 073767 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/12/2015; thửa đất số 90; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 132m2. Tài sản trên đất có 01 căn nhà cấp IV diện tích 06m x 13m = 78m2; kết cấu: Mái lợp tole, trần nhựa tấm thả, tường xây gạch, nền lát gạch keramic, cữa đi và cữa sổ sử dụng sắt và kính. Hoàn thiện vét vôi sơn lăn.

Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 800069 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 06/02/2006; thửa đất số 15-C4; tờ bản đồ: QH; địa chỉ: tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 160m2.Trên đất không có tài sản.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì buộc ông Nguyễn Văn A tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền còn nợ và lãi suất phát sinh

3. Xét về án phí: Ông Nguyễn Văn A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4. Xét về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Để có cơ sở cho Tòa án xử lý tài sản thế chấp đúng quy định pháp luật Ngân hàng có đơn đề nghị Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp và tại phiên tòa đại diện cho Ngân hàng tự nguyện chịu toàn bộ chi phí trên với số tiền là 2.450.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét để buộc ông An phải hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299; Điều 300 và Điều 303; Điều 463; Điều 466; Điều 467; Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng. Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam.

Buộc ông Nguyễn Văn A trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh tỉnh Gia Lai - Phòng giao dịch A toàn bộ số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) và lãi suất tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 74.358.932 đồng (Bảy mươi bốn triệu, ba trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng). Tổng cộng nợ gốc và lãi là 624.358.932 (Sáu trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng).

Việc tính lãi và lãi suất quá hạn đối với các khoản vay của các tổ chức tín dụng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết, kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

Trường hợp ông Nguyễn Văn A không thanh toán được khoản nợ trên, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng cùng với tiền lãi và lãi suất quá hạn phát sinh. Tài sản thế chấp đứng tên ông Nguyễn Văn A gồm:

Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 727925 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/02/2012; thửa đất số 65; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía Tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 145m2. Trên đất không có tài sản. Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 727908 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/02/2012; thửa đất số 66; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía Tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 145m2. Trên đất không có tài sản. Đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 073767 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/12/2015; thửa đất số 90; tờ bản đồ: “Sơ đồ phân lô đất ở phía Tây trường THPT Y Đôn”; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 132m2. Tài sản trên đất có 01 căn nhà cấp IV diện tích 06m x 13m = 78m2; kết cấu: Mái lợp tole, trần nhựa tấm thả, tường xây gạch, nền lát gạch keramic, cửa đi và cửa sổ sử dụng sắt và kính. Hoàn thiện vét vôi sơn lăn.

Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 800069 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 06/02/2006; thửa đất số 15-C4; tờ bản đồ: QH; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; diện tích 160m2.Trên đất không có tài sản.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì buộc ông Nguyễn Văn A tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền còn nợ và lãi suất phát sinh.

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn A phải nộp 28.974.357 đồng (Hai mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi bốn nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam số tiền tạm ứng án phí là 13.261.478 (Mười ba triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn, bốn trăm bảy mươi tám đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004105 ngày 20/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đóng đủ số tiền 2.450.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng)

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 07/9/2017. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi bị đơn cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


121
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2017/KDTM-ST ngày 07/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:02/2017/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đăk Đoa - Gia Lai
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:07/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về