Việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được thực hiện bằng những hình thức nào?

Trần Thị Tuyết Vân 276 lượt xem
08:27 | 05/08/2023
Tôi có thắc mắc liên quan đến vấn đề cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng. Cho tôi hỏi việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được thực hiện bằng những hình thức nào? Câu hỏi của chị Ngọc Mai ở Đồng Tháp.
Nội dung chính
  1. Việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được thực hiện bằng những hình thức nào?
  2. Việc giao nhận thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được quy định như thế nào?
  3. Thời hạn cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng là bao lâu?

Việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được thực hiện bằng những hình thức nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 6 Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về hình thức yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng như sau:

Hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin khách hàng
1. Hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin khách hàng:
a) Hình thức gián tiếp: yêu cầu, cung cấp thông tin khách hàng được thực hiện thông qua các tổ chức cung ứng dịch vụ bưu chính hoặc thông qua phương tiện điện tử, hệ thống mạng viễn thông và mạng máy tính.
Việc yêu cầu, cung cấp thông tin khách hàng thông qua phương tiện điện tử, hệ thống mạng viễn thông, mạng máy tính phải tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, hướng dẫn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và phù hợp với điều kiện kỹ thuật của các bên;
b) Hình thức trực tiếp: yêu cầu, cung cấp thông tin khách hàng được thực hiện tại trụ sở tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và thông qua người đại diện của các bên.
...

Theo đó, việc yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được thực hiện bằng hình thức gián tiếp và hình thức trực tiếp được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 6 nêu trên.

Tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng (Hình từ Internet)

Việc giao nhận thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng được quy định như thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về giao nhận thông tin khách hàng như sau:

Hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin khách hàng
...
2. Giao nhận thông tin khách hàng:
a) Đối với hình thức gián tiếp thông qua tổ chức cung ứng dịch vụ bưu chính: việc giao, nhận bưu gửi chứa thông tin khách hàng phải theo hình thức bảo đảm, vào sổ ghi nhận, theo dõi việc giao, nhận bưu gửi chứa thông tin khách hàng giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức cung ứng dịch vụ bưu chính;
b) Đối với hình thức gián tiếp thông qua phương tiện điện tử, hệ thống mạng viễn thông và mạng máy tính: việc truyền, nhận, cung cấp, lưu trữ thông tin khách hàng phải bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, an toàn thông tin mạng, hướng dẫn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
c) Đối với hình thức trực tiếp: việc giao nhận thông tin khách hàng phải được lập thành biên bản, có con dấu, chữ ký của người có thẩm quyền theo phân cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và chữ ký của người đại diện nhận thông tin khách hàng.

Như vậy, việc giao nhận thông tin khách hàng đối với hình thức gián tiếp thông qua tổ chức cung ứng dịch vụ bưu chính; hình thức gián tiếp thông qua phương tiện điện tử, hệ thống mạng viễn thông và mạng máy tính; hình thức trực tiếp có sự khác nhau và được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 6 nêu trên.

Thời hạn cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng là bao lâu?

Căn cứ Điều 7 Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về thời hạn cung cấp thông tin khách hàng như sau:

Thời hạn cung cấp thông tin khách hàng
1. Trường hợp pháp luật liên quan có quy định cụ thể về thời hạn cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan nhà nước thì thời hạn cung cấp thông tin khách hàng là thời hạn quy định tại pháp luật liên quan đó kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
2. Trường hợp pháp luật liên quan không quy định cụ thể về thời hạn cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan nhà nước thì thời hạn cung cấp thông tin khách hàng thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và cơ quan nhà nước hoặc theo quy định nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng tối đa không quá thời hạn sau đây:
a) 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng theo quy định tại Nghị định này đối với trường hợp thông tin khách hàng đơn giản, có sẵn;
b) 25 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng theo quy định tại Nghị định này đối với trường hợp thông tin khách hàng phức tạp, không có sẵn.

Như vậy, nếu pháp luật liên quan có quy định cụ thể về thời hạn cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan nhà nước thì thời hạn cung cấp thông tin khách hàng là thời hạn quy định tại pháp luật liên quan đó kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng.

Trường hợp pháp luật liên quan không quy định cụ thể về thời hạn cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan nhà nước thì thời hạn cung cấp thông tin khách hàng thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và cơ quan nhà nước hoặc theo quy định nội bộ của tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên thời hạn này tối đa không quá khoảng thời gian quy định tại khoản 2 Điều 7 nêu trên.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thị Tuyết Vân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tiền tệ - Ngân hàng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư 47/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 41/2024/TT-NHNN về giám sát hệ thống thanh toán có nội dung nào?

Nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 41/2024/TT-NHNN quy định về giám sát và thực hiện giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu rõ tại Thông tư 47/2026/TT-NHNN cụ thể như sau:

Bài viết mới nhất