Từ 20/6/2026, tổ chức tín dụng bán nợ sẽ không chịu thuế GTGT đúng không theo Nghị định 144/2026/NĐ-CP?
Nghị định 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026 quy định về các khoản thu từ hoạt động bán nợ của tổ chức tín dụng không chịu thuế GTGT.
Căn cứ theo điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 144/2026/NĐ-CP quy định về các khoản thu từ hoạt động bán nợ không chịu thuế GTGT. Theo đó, so sánh hai quy định trước và sau khi sửa đổi, bổ sung như sau:
điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP | điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 144/2026/NĐ-CP |
đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi giữa người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng. | đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi |
Theo quy định trước sửa đổi, các khoản thu từ hoạt động bán nợ giữa người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng thì không chịu thuế GTGT.
Tuy nhiên, theo quy định mới sửa đổi đã bỏ cụm từ "người nộp thuế không phải tổ chức tín dụng" nên các khoản thu từ hoạt động bán nợ giữa các tổ chức tín dụng sẽ không phải chịu thuế GTGT theo quy định mới.
Như vậy, từ 20/6/2026, tổ chức tín dụng bán nợ sẽ không chịu thuế GTGT.

Từ 20/6/2026, tổ chức tín dụng bán nợ sẽ không chịu thuế GTGT đúng không theo Nghị định 144/2026/NĐ-CP? (Hình từ Internet)
>>> Hướng dẫn ghi Thuế suất thuế giá trị gia tăng trên hóa đơn điện tử từ 01/7/2026?
Người nộp thuế GTGT theo quy định của Nghị định 181/2025/NĐ-CP bao gồm những ai?
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về người nộp thuế GTGT như sau
Người nộp thuế thực hiện theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
(1) Người nộp thuế quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 bao gồm:
- Các tổ chức được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và pháp luật chuyên ngành khác.
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam.
- Doanh nghiệp chế xuất thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
- Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh; nhóm người kinh doanh độc lập.
- Tổ chức, cá nhân khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh.
(2) Người nộp thuế quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 gồm:
- Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài. Việc thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài của người nộp thuế quy định tại điểm này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
- Người nộp thuế quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 là tổ chức quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, tổ chức quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện theo quy định của Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.
Hình thức pháp lý của tổ chức tín dụng là gì?
Căn cứ theo Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 quy định về các hình thức pháp lý của tổ chức tín dụng như sau:
(1) Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ trường hợp quy định tại (2) và trường hợp thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc được phê duyệt.
(2) Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
(3) Tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
(4) Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
(5) Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã.
(6) Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];