- Việc kết thúc bỏ phiếu muộn hơn thời gian quy định chỉ được thực hiện đến thời điểm nào theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?
- Thời gian quy định về công bố Ngày bầu cử bổ sung thế nào?
- Mỗi khu vực bỏ phiếu có bao nhiêu cử tri theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?
Việc kết thúc bỏ phiếu muộn hơn thời gian quy định chỉ được thực hiện đến thời điểm nào theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?
Căn cứ Điều 71 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định thời gian bỏ phiếu:
Thời gian bỏ phiếu
1. Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín giờ tối cùng ngày.
2. Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.
...
Như vậy, theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, tùy tình hình địa phương, việc kết thúc bỏ phiếu muộn hơn thời gian quy định chỉ được thực hiện đến 09 giờ tối (21 giờ) cùng ngày
Trên đây là thông tin về "Việc kết thúc bỏ phiếu muộn hơn thời gian quy định chỉ được thực hiện đến thời điểm nào theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?"

Việc kết thúc bỏ phiếu muộn hơn thời gian quy định chỉ được thực hiện đến thời điểm nào theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân? (Hình từ Internet)
Thời gian quy định về công bố Ngày bầu cử bổ sung thế nào?
Căn cứ tại Điều 89 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 về Bầu cử bổ sung
Bầu cử bổ sung
1. Việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ chỉ được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 02 năm và thiếu trên mười phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ.
2. Việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ chỉ được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 18 tháng và đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Hội đồng nhân dân thiếu trên một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ;
b) Đơn vị hành chính mới được thành lập trên cơ sở nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính hiện có có số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân không đủ hai phần ba tổng số đại biểu được bầu theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương.
3. Quốc hội quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội; Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
4. Ngày bầu cử bổ sung phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.
Theo đó, Ngày bầu cử bổ sung phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.
Mỗi khu vực bỏ phiếu có bao nhiêu cử tri theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?
Theo Điều 11 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 được sửa đổi bởi điểm a, b khoản 5 Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025 quy định như sau:
Khu vực bỏ phiếu
1. Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chia thành các khu vực bỏ phiếu. Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
2. Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu.
3. Các trường hợp có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng:
a) Đơn vị vũ trang nhân dân;
b) Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên;
c) Cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trại tạm giam.
4. Việc xác định khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh việc xác định khu vực bỏ phiếu. Việc xác định khu vực bỏ phiếu được thực hiện trước khi thành lập Tổ bầu cử.
Như vậy, mỗi khu vực bỏ phiếu có từ 300 đến 4000 cử tri.
Lưu ý: Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];