Văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung đến lần thứ mấy thì không thể sửa tiếp mà phải ban hành văn bản mới thay thế?
Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, một văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhiều lần không phải là căn cứ để ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp luật đó. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được sửa đổi nhiều lần.
Căn cứ khoản 4 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 có quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật, theo đó:
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Thay đổi cơ bản chính sách, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng;
- Sửa đổi, bổ sung về nội dung quá một phần hai tổng số điều.
Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhiều lần không phải là căn cứ để ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp luật đó.
Đến khi thay đổi cơ bản chính sách, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng hoặc cần phải sửa đổi, bổ sung về nội dung quá một phần hai tổng số điều thì mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Hiện nay có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, trong số đó:
Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm y tế 2008 vẫn còn hiệu lực thi hành và đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2013 (đã hết hiệu lực), Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2014, Luật phí và lệ phí 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018, Luật Cư trú 2020, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở 2023, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024, Luật Phòng bệnh 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2026).
Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 vẫn còn hiệu lực thi hành và đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025.

Văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung đến lần thứ mấy thì không thể sửa tiếp mà phải ban hành văn bản mới thay thế?
Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật là luật để quy định những vấn đề gì?
Theo khoản 1 Điều 10 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, Quốc hội ban hành luật để quy định:
- Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
- Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt; tố tụng tư pháp;
- Chính sách cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định các thứ thuế, về huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
- Chính sách cơ bản về quốc phòng, an ninh quốc gia; hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
- Chính sách cơ bản về đối ngoại; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác;
- Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
- Trưng cầu ý dân;
- Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;
- Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và luật.
Các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay thế nào?
Theo Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 có quy định nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm:
(1) Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
(2) Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
(3) Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng, chống lợi ích nhóm, cục bộ.
(4) Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.
(5) Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
(6) Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện thí điểm phải xác định thời gian thực hiện thí điểm và phải được sơ kết, tổng kết để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.
(7) Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
>> Dự kiến 26 dự án luật sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI?
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];