Khi một cơ quan y tế đình chỉ hoặc chấm dứt hợp đồng thực hành có phải báo trước với người thực hành hay không?

Nguyễn Anh Hương Thảo 529 lượt xem
16:42 | 02/11/2023
1. Hiện tại, có quy định nào về thời giờ thực hành cho nhân viên y tế không? (ví dụ: thời gian thực hành 9 tháng, nhưng mỗi tuần chỉ thực hành 1 vài ngày hoặc vài giờ tuỳ ý có được không?). 2. Khi một cơ quan y tế đình chỉ hoặc chấm dứt hợp đồng thực hành có phải báo trước với người thực hành hay không? Mong được giải đáp thắc mắc sớm nhất, xin cảm ơn!
Nội dung chính
  1. Có quy định nào về thời giờ thực hành cho nhân viên y tế không ?
  2. Khi một cơ quan y tế đình chỉ hoặc chấm dứt hợp đồng thực hành có phải báo trước với người thực hành hay không?
  3. Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng được pháp luật quy định như thế nào?

Có quy định nào về thời giờ thực hành cho nhân viên y tế không ?

Căn cứ khoản 1 Điều 24 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 về xác nhận quá trình thực hành như sau:

"Điều 24. Xác nhận quá trình thực hành

1. Người có văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế được cấp hoặc công nhận tại Việt Nam, trước khi được cấp chứng chỉ hành nghề, phải qua thời gian thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:

a) 18 tháng thực hành tại bệnh viện, việc nghiên cứu có giường bệnh (sau đây gọi chung là bệnh viện) đối với bác sĩ;

b) 12 tháng thực hành tại bệnh viện đối với y sỹ;

c) 09 tháng thực hành tại bệnh viện có khoa phụ sản hoặc tại nhà hộ sinh đối với hộ sinh viên.

d) 09 tháng thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với điều dưỡng viên, kỹ thuật viên

2. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản về quá trình thực hành cho người đã thực hành tại cơ sở của mình, bao gồm nội dung về thời gian, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp."

Như vậy, thì luật chỉ quy định về thời gian thực hành (bao nhiêu tháng cho từng vị trí) và không có không quy định ràng buộc về thời giờ. Tuy nhiên trong bản Hợp đồng thực hành khám, chữa bệnh thì các bên có thể thỏa thuận và thống nhất thời giờ thực hành cụ thể.

Hợp đồng

Hợp đồng 

Khi một cơ quan y tế đình chỉ hoặc chấm dứt hợp đồng thực hành có phải báo trước với người thực hành hay không?

Về hợp đồng thực hành khám, chữa bệnh thì đây là một loại hợp đồng dân sự. Theo đó, về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015:

"Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.

4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.

5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng."

Vậy nếu người thực hành vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì cơ quan y tế có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và thông báo ngay cho người thực hành biết.

Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng được pháp luật quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 427 Bộ luật Dân sự quy định hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng như sau:

- Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

- Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.

Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả.

Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải được thực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

- Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường.

- Việc giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định.

- Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quy định tại các điều 423, 424, 425 và 426 của Bộ luật này thì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thể thao - Y tế Xem thêm

Pháp luật
Thông tư quy định khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên 2026 mới nhất ra sao? Quy định khám sức khỏe định kỳ mới nhất?

Năm 2026, quy định về khám sức khỏe định kỳ cho người lao động được thực hiện theo Thông tư 32/2023/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 25/2026/TT-BYT. Vậy người lao động được khám sức khỏe định kỳ bao lâu một lần, nội dung khám gồm những gì và Thông tư nào quy định về khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên?

Bài viết mới nhất