Toàn văn Công văn 01/TANDTC-PC hướng dẫn áp dụng một số quy định Bộ luật Hình sự chi tiết ra sao?
Ngày 05/01/2026 TAND đã ban hành Công văn 01/TANDTC-PC năm 2026 hướng dẫn áp dụng một số quy định Bộ luật Hình sự.

>>> Tải về Toàn văn Công văn 01/TANDTC-PC năm 2026
Dưới đây là nội dung Công văn 01/TANDTC-PC năm 2026 hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự:
Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh khó khăn, vướng mắc của một số Tòa án về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Để việc áp dụng thống nhất quy định pháp luật về nội dung này, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
(1) Về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác
- Về thời điểm truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại điểm d khoản 2 và khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024 thì dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khí quân dụng. Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025.
Ngày 15/11/2024, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư 75/2024/TT-BCA quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trong đó Phụ lục số 05 đã xác định danh mục dao có tính sát thương cao. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025.
Do vậy, kể từ ngày 01/01/2025, người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và tội phạm tương ứng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
- Về hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
+ Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.
Trường hợp này, xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là nguyên đơn dân sự. Nếu người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
+ Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015 và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp này, không xác định hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là tình tiết dùng vũ khí để định khung hình phạt đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2, điểm c và d khoản 3, điểm d và đ khoản 4, điểm b khoản 5 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.
+ Người thực hiện hành vi chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích, tổn hại sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.
(2) Về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu
Điều 190, Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP đều quy định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm.
Do đó, người có hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm quy định tại Điều 190 hoặc Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Toàn văn Công văn 01/TANDTC-PC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự chi tiết ra sao? (Hình ảnh từ Internet)
Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm thế nào?
Căn cứ Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm như sau:
- Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.
- Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
- Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Bỏ hình phạt tử hình với 8 tội danh từ ngày 01/7/2025
Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 đã bỏ hình phạt tử hình với 8 tội danh sau:
[1] Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109);
[2] Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của Nhà nước (Điều 114);
[3] Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194);
[4] Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421);
[5] Tội gián điệp (Điều 110);
[6] Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250);
[7] Tội tham ô tài sản (Điều 353);
[8] Tội nhận hối lộ (Điều 354).
Ngoài ra, khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 đã sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự 2015 về việc không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
- Người đủ 75 tuổi trở lên;
- Người mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối.
(Trước ngày 01/7/2025 quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người đủ 75 tuổi trở lên; Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn).
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];