Theo Luật Thủ đô, thẩm quyền quyết định thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt thuộc thành phố là của cơ quan nào?
Luật Thủ đô đang được áp dụng hiện nay là Luật số 02/2026/QH16 quy định vị trí, vai trò của Thủ đô; cơ chế, chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô.
Vậy, Theo Luật Thủ đô, thẩm quyền quyết định thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt thuộc thành phố là của cơ quan nào?
Tại Điều 6 Luật Thủ đô 2026 có quy định về Đơn vị hành chính thuộc thành phố như sau:
Đơn vị hành chính thuộc Thành phố
1. Đơn vị hành chính thuộc Thành phố bao gồm xã, phường và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thuộc Thành phố do Quốc hội quyết định thành lập để thực hiện vai trò đô thị chức năng theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô; được tổ chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội, thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Như vậy, theo Luật Thủ đô, thẩm quyền quyết định thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt thuộc thành phố thuộc về Quốc hội.
Cụ thể, Quốc hội quyết định thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt thuộc thành phố để thực hiện vai trò đô thị chức năng theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô; được tổ chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội, thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô.

Theo Luật Thủ đô, thẩm quyền quyết định thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt thuộc thành phố là của cơ quan nào?
Đơn vị hành chính được phân loại như thế nào?
Căn cứ tại Điều 3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 quy định về phân loại đơn vị hành chính như sau:
[1] Phân loại đơn vị hành chính là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính.
[2] Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo theo quy định của Chính phủ.
Quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Thủ đô 2026
Căn cứ Điều 8 Luật Thủ đô 2026, việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định như sau:
[1] Văn bản thi hành Luật Thủ đô quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Thủ đô 2026 được quy định khác với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành.
[2] Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để:
(a) Điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thuộc Thành phố, bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính, không quy định thêm thành phần hồ sơ, không tăng thêm yêu cầu, điều kiện, thời gian giải quyết thủ tục đang áp dụng;
(b) Quy định biện pháp đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển Thủ đô để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội mà khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ.
[3] Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản [1] và điểm b khoản [2] thực hiện theo quy định sau đây:
- Đánh giá sự cần thiết, tính cân đối, hợp lý của việc cần phải ban hành văn bản để quy định khác với văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ; xác định rõ mục tiêu và dự kiến kết quả cần đạt được khi ban hành văn bản, cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình;
- Đánh giá sự phù hợp của văn bản với quy định tại Điều 4 Luật Thủ đô 2026;
- Đánh giá tác động của chính sách trong dự thảo văn bản;
- Thực hiện tham vấn dự thảo văn bản với cơ quan có thẩm quyền ở trung ương, cơ quan, tổ chức có liên quan, lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, truyền thông nội dung, đăng tải hồ sơ dự thảo văn bản và nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến tham vấn, góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo văn bản;
- Tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Không áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn, trừ trường hợp tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần hoặc bãi bỏ văn bản.
[4]. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản [2] và quy định chi tiết khoản [3]
[5]. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định việc ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật để quyết định lựa chọn áp dụng pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Thủ đô. Nội dung nghị quyết lựa chọn áp dụng pháp luật phải xác định rõ quy định của văn bản quy phạm pháp luật được lựa chọn áp dụng, phạm vi, đối tượng được áp dụng, thời điểm áp dụng, quy định chuyển tiếp (nếu có).
Trên đây là bài viết 'Theo Luật Thủ đô, thẩm quyền quyết định thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt thuộc thành phố là của cơ quan nào?'
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];