Điều khoản chuyển tiếp Luật Phát triển đô thị 2026, số 18/2026/QH16 và Thí điểm cơ chế, chính sách ra sao?

11:57 | 31/08/2026
Quốc hội ban hành Luật Phát triển đô thị 2026 Luật số 18/2026/QH16. Luật này quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phố là đô thị loại đặc biệt (sau đây gọi là đô thị đặc biệt), thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.
Nội dung chính
  1. Điều khoản chuyển tiếp Luật Phát triển đô thị 2026
  2. Thí điểm cơ chế, chính sách
  3. Hiệu lực thi hành Luật Phát triển đô thị 2026

Quốc hội ban hành Luật Phát triển đô thị 2026 Luật số 18/2026/QH16. Luật này quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phố là đô thị loại đặc biệt (sau đây gọi là đô thị đặc biệt), thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.

Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố khác là đô thị đặc biệt (sau đây gọi là Thành phố) được áp dụng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026. Thành phố Hà Nội thực hiện theo quy định tại Luật Thủ đô.

Thành phố không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này được áp dụng một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại Luật này, trừ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 16 và Mục 7 Chương II của Luật Phát triển đô thị 2026.

Khu kinh tế đặc biệt được áp dụng cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt quy định tại Luật Phát triển đô thị năm 2026. Tỉnh, thành phố nơi có khu kinh tế đặc biệt được thực hiện một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại Chương II của Luật Phát triển đô thị năm 2026 để áp dụng trên địa bàn khu kinh tế đặc biệt, trừ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 16 và Mục 7 Chương II của Luật Phát triển đô thị 2026.

Chính phủ quy định phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt cho các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này trong trường hợp có chủ trương của cấp có thẩm quyền, trên cơ sở phù hợp với điều kiện đặc thù, định hướng phát triển, năng lực thực thi của từng địa phương và tuân thủ các nguyên tắc quy định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều 3 của Luật Phát triển đô thị 2026.

Trường hợp cần thí điểm cơ chế, chính sách khác hoặc chưa được quy định trong Luật này, văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, Chính phủ ban hành nghị định sau khi có chủ trương của cấp có thẩm quyền và được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xem chi tiết Nội dung Luật Phát triển đô thị 2026, số 18/2026/QH16 tải về

Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026, trừ quy định tại (2), (3) Điều 63 Luật Phát triển đô thị 2026.

Điều khoản chuyển tiếp Luật Phát triển đô thị 2026

Điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách được quy định tại Điều 64, 65, 66 Luật Phát triển đô thị 2026, cụ thể:

Điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách đối với Thành phố Hồ Chí Minh

1. Các chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế tài chính, cơ chế quản lý, cơ chế tự chủ, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã được phê duyệt, đang triển khai trước ngày Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện theo quyết định đã ban hành; trường hợp phù hợp với quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026 thì được chuyển sang thực hiện theo cơ chế, thẩm quyền quy định của Luật Phát triển đô thị 2026 mà không phải phê duyệt lại.

2. Các cơ chế thí điểm, thử nghiệm, thử nghiệm có kiểm soát, mô hình quản trị mới đang triển khai trước ngày Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo phương án đã được phê duyệt; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố được điều chỉnh nội dung, phạm vi, thời gian thí điểm, thử nghiệm, thử nghiệm có kiểm soát để phù hợp với quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026 mà không phải thực hiện lại trình tự phê duyệt.

3. Đối với các nội dung về tổ chức chính quyền, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, vị trí việc làm đã được thực hiện trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành quy định mới theo thẩm quyền quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026.

4. Các cơ chế, chính sách, nhiệm vụ, hoạt động, dự án đang thực hiện theo Nghị quyết 98/2023/QH15 thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Nghị quyết này, trừ trường hợp Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị 2026.

Đối với vùng phụ cận các nút giao thông dọc tuyến đường Vành đai 3 được xác định phát triển theo mô hình TOD theo quy định tại Nghị quyết 98/2023/QH15 thì Hội đồng nhân dân Thành phố thực hiện thẩm quyền quy định lại điểm b khoản 1 Điều 13 của Luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 3 Điều 13 của Luật Phát triển đô thị 2026.

5. Trong thời gian Nghị quyết 188/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh còn hiệu lực thi hành, Hội đồng nhân dân Thành phố tiếp tục thực hiện thẩm quyền quyết định điều chỉnh, bổ sung các dự án đường sắt mới nằm trên địa bàn Thành phố vào Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết 188/2025/QH15 theo nhu cầu phát triển của Thành phố và báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện.

6. Hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận mà đến ngày Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành chưa được giải quyết xong thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

7. Đối với dự án, gói thầu do cơ quan có thẩm quyền của Thành phố quyết định hoặc chấp thuận theo quy định của pháp luật về đầu tư công, đầu tư, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, nhà ờ, đấu thầu mà chưa hoàn thành trước ngày Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng theo quy định của pháp luật tại thời điểm quyết định hoặc chấp thuận, trừ trường hợp Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị 2026.

8. Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược đối với dự án đã được thực hiện hoặc đang triển khai theo quy định của các nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù đối với Thành phố thì tiếp tục thực hiện theo quy định, văn bản triển khai các nghị quyết đó, trừ trường hợp Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị 2026.

Điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách đối với thành phố không là đô thị đặc biệt

Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù cho thành phố quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật Phát triển đô thị 2026 tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần cho đến khi nghị định của Chính phủ ban hành theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 1 và khoản 7 Điều 63 của Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành.

Điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách đối với khu kinh tế đặc biệt

1. Các quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày đơn vị hành chính cấp xã được công nhận là khu kinh tế đặc biệt được tiếp tục thực hiện cho đến khi quy hoạch chung khu kinh tế đặc biệt được phê duyệt theo quy định của Luật Phát triển đô thị 2026. Sau khi quy hoạch chung khu kinh tế đặc biệt được phê duyệt, Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt quyết định các quy hoạch chi tiết đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt tiếp tục được thực hiện.

2. Các dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước ngày đơn vị hành chính cấp xã được công nhận là khu kinh tế đặc biệt thì tiếp tục được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định tại văn bản đã cấp; trường hợp ưu đãi quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026 có lợi hơn thì được áp dụng ưu đãi theo Luật này cho thời gian còn lại của dự án theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt.

3. Hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận mà đến ngày đơn vị hành chính cấp xã được công nhận là khu kinh tế đặc biệt chưa được giải quyết xong thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

4. Việc chuyển tiếp đối với nội dung về tổ chức chính quyền, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, vị trí việc làm tại đơn vị hành chính cấp xã do Chính phủ quyết định khi công nhận khu kinh tế đặc biệt.

5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt quyết định giá đất cụ thể, giao tổ chức tư vấn xác định giá đất theo hình thức chỉ định thầu rút gọn đối với các trường hợp đã có quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, điều chỉnh quy hoạch chi tiết mà phải xác định lại giá đất thuộc trường hợp xác định giá đất cụ thể nhưng đến ngày đơn vị hành chính cấp xã được công nhận là khu kinh tế đặc biệt chưa lựa chọn được tổ chức thực hiện định giá đất.

Thí điểm cơ chế, chính sách

Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Đô thị đặc biệt được quy định tại Chương II của Luật Phát triển đô thị 2026 từ Điều 6 đến Điều 42. Cấu trúc chia mục: Nội dung chương được phân thành 7 mục cụ thể bao gồm:

  • Mục 1: Tổ chức bộ máy, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Mục 2: Quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự an toàn đô thị.
  • Mục 3: Phát triển kinh tế.
  • Mục 4: Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội.
  • Mục 5: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
  • Mục 6: Nguồn lực phát triển đô thị đặc biệt.
  • Mục 7: Liên kết, phát triển vùng.

Thí điểm cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Đô thị đặc biệt (Điều 8 Luật Phát triển đô thị 2026) như sau:

(1) Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại Thành phố.

Không thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật.

(2) Việc thí điểm cơ chế, chính sách phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

  • Phù hợp với Hiến pháp, không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
  • Không hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh; bảo đảm công khai, minh bạch;
  • Không phương hại đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
  • Không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục; không làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước;
  • Thời gian thí điểm không quá 05 năm và có thể được gia hạn không quá 05 năm.

(3) Phạm vi thí điểm cơ chế, chính sách bao gồm:

  • Mô hình mới về tổ chức bộ máy các cấp chính quyền của Thành phố, mô hình quản trị, kiến tạo tiên tiến, hiện đại; chế độ công vụ, công chức;
  • Mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch, y tế và chăm sóc sức khỏe;
  • Mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, nông nghiệp giảm phát thải khí nhà kính;
  • Mô hình quản lý đô thị, nông thôn, không gian và phát triển bền vững;
  • Phương thức khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực để phát triển và quản trị Thành phố;
  • Giải pháp xử lý các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến chất lượng sống của người dân hoặc sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố;
  • Cơ chế, chính sách khác theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.

(4) Trên cơ sở chấp thuận của cấp có thẩm quyền, Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách, trong đó xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, không gian, địa bàn thí điểm; dự kiến kết quả, tác động của thí điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; biện pháp quản trị rủi ro; cơ chế kiểm soát, giám sát, đánh giá; điều kiện, trình tự điều chỉnh, gia hạn hoặc kết thúc việc thí điểm.

(5) Ủy ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm:

- Trình Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách.

Trường hợp đề xuất thí điểm cơ chế, chính sách có tác động đến vùng đô thị đặc biệt, Ủy ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm đánh giá tác động kinh tế - xã hội vùng, quốc gia, lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương có liên quan trước khi trình Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét, quyết định;

- Tổ chức thực hiện nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách; bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

- Xử lý hoặc kiến nghị xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện; tạm dừng việc thí điểm và báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét, quyết định trong trường hợp việc thí điểm có ảnh hưởng tiêu cực vượt quá mức độ đã được dự báo;

- Báo cáo đánh giá định kỳ hằng năm hoặc theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân Thành phố và cơ quan có thẩm quyền về tình hình, kết quả thực hiện thí điểm;

- Tổ chức đánh giá kết quả thực hiện thí điểm, xác định mức độ hoàn thành mục tiêu, hiệu quả, tác động đối với phát triển Thành phố và vùng đô thị đặc biệt; đề nghị Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định việc điều chỉnh, gia hạn hoặc kết thúc việc thí điểm;

- Trình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chính thức.

(6) Việc xây dựng, ban hành nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 7 của Luật này.

Hiệu lực thi hành Luật Phát triển đô thị 2026

Căn cứ theo Điều 63 Luật Phát triển đô thị 2026:

(1) Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026, trừ quy định tại (2), (3).

(2) Quy định tại khoản 4 Điều 7 Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026. Kể từ ngày Luật Phát triển đô thị 2026 được thông qua, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc xây dựng, ban hành văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị theo quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026.

Chính sách ưu đãi thuế quy định tại điểm b khoản 2, điểm a khoản 3, điểm a khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 39, khoản 3, khoản 4 Điều 48, điểm b, điểm d khoản 1 Điều 52 Luật Phát triển đô thị 2026 được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2027.

Nghị quyết 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 71/2025/QH15, Luật số 72/2025/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 (sau đây gọi là Nghị quyết 98/2023/QH15) hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2027, trừ quy định tại khoản 9 Điều 5, khoản 7 Điều 6 của Nghị quyết 98/2023/QH15 hết hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2031 và trừ trường hợp thực hiện chuyển tiếp theo quy định tại khoản 4 Điều 64 của Luật Phát triển đô thị 2026.

Quy định tại điểm q khoản 1 và khoản 10 Điều 12 của Nghị quyết 136/2024/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 71/2025/QH15, Luật số 72/2025/QH15 và Nghị quyết 259/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Phát triển đô thị 2026 có hiệu lực thi hành.

Chính phủ quy định:

  • Trình tự, thủ tục công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ việc áp dụng chế độ ưu tiên hải quan quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026;
  • Điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với khu phi thuế quan; trình tự, thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa ra vào khu phi thuế quan quy định tại Luật Phát triển đô thị 2026;
  • Chế độ, thủ tục hải quan và quản lý chuyên ngành đặc thù tại khu cảng mở.

Trên cơ sở nguyên tắc, cơ chế, chính sách, giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình quy định tại Luật này, Chính phủ quy định:

  • Việc thành lập, cơ chế, chính sách, mô hình quản lý khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu phi thuế quan ở tỉnh, thành phố chưa được áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị 2026;
  • Việc đầu tư, xây dựng, phát triển khu đô thị lấn biển quy định tại Điều 19 của Luật này và việc áp dụng đối với tỉnh, thành phố chưa được áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị 2026.
Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Minh Hiếu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Xây dựng - Đô thị Xem thêm

Bài viết mới nhất