Công văn 6297/CT-QLTT Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan ra sao?

10:15 | 05/09/2026
Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan, cụ thể như sau:
Nội dung chính
  1. Công văn 6297/CT-QLTT Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan ra sao?
  2. Quy định về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan từ ngày 01/3/2027 theo Luật Hải quan sửa đổi ra sao?
  3. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan từ ngày 01/3/2027 ra sao?

Công văn 6297/CT-QLTT Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan ra sao?

Ngày 25/8/2026 Cục Thuế ban hành Công văn 6297/CT-QLTT năm 2026 trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan.

TẢI VỀ Công văn 6297/CT-QLTT năm 2026

Theo đó, Công văn 6297/CT-QLTT năm 2026 Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan, cụ thể như sau:

1. Nội dung thứ nhất

- Vấn đề/vướng mắc trong thực tế:

Hiện nay, doanh nghiệp nhập khẩu một số nguyên liệu hóa chất được yêu cầu khai báo chi tiết 100% thành phần hóa học. Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công thức nguyên liệu có thể là bí mật công nghệ, được nhà cung cấp nước ngoài bảo mật nghiêm ngặt. Việc phải thể hiện toàn bộ thành phần trên hồ sơ có phạm vi tiếp cận rộng có thể làm phát sinh nguy cơ lộ bí mật thương mại và ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, một số máy móc, thiết bị mới chưa qua sử dụng, và thiết bị phục vụ sản xuất, vẫn phải thực hiện kiểm tra chất lượng chuyên ngành. Việc lấy mẫu, giám định và chờ kết quả có thể kéo dài thời gian thông quan, làm tăng chi phí lưu container, lưu kho và ảnh hưởng kế hoạch sản xuất.

- Nội dung kiến nghị của doanh nghiệp:

Đề xuất áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro: doanh nghiệp tuân thủ tốt, hàng hóa mới/có chứng nhận chất lượng quốc tế và lịch sử nhập khẩu ổn định thì được thông quan trước, kiểm tra sau.

Đối với thông tin về công thức hóa chất, nên cho phép doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp trực tiếp cho cơ quan chuyên ngành bằng phương thức bảo mật; hồ sơ hải quan chỉ thể hiện thành phần cần thiết để phân loại hàng hóa và quản lý an toàn. Đối với máy móc, thiết bị mới, cần rà soát để loại bỏ các khâu kiểm tra trùng lặp giữa cơ quan hải quan và cơ quan quản lý chuyên ngành.

- Ý kiến phúc đáp:

Liên quan đến vướng mắc của công ty về thủ tục hải quan đối với hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu: Ngày 26/6/2026, Cục Hải quan có Công văn 18114/CHQ-GSQL hướng dẫn các Chi cục Hải quan khu vực (gửi kèm theo).

Theo đó, đối với phản ánh kiến nghị về việc phải khai báo 100% thông tin thành phần hóa chất nhập khẩu dẫn đến nguy cơ làm lộ lọt bí mật kinh doanh và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nhà sản xuất. Căn cứ Luật Hải quan, các văn bản hướng dẫn thi hành và chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, Cục Hải quan đã yêu cầu các Chi cục Hải quan khu vực chỉ đạo các đơn vị hải quan thuộc và trực thuộc:

+ Thực hiện thủ tục hải quan đối với hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở nội dung khai báo của người khai hải quan và các chứng từ liên quan do người khai nộp/xuất trình theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Hải quan, Luật Hóa chất và các văn bản hướng dẫn Luật Hải quan, Luật Hóa chất. Cơ quan hải quan không được yêu cầu người khai hải quan phải nộp/xuất trình bổ sung thông tin, tài liệu kỹ thuật, chứng từ ngoài quy định tại các văn bản nêu trên. Người khai hải quan tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp/xuất trình theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan 2014.

+ Đối với trường hợp có cơ sở xác định hóa chất nhập khẩu thuộc danh mục hóa chất phải khai báo hóa chất, hóa chất có điều kiện, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, hóa chất cấm nhập khẩu, xuất khẩu nhưng người khai hải quan khai báo hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu không thuộc các trường hợp này, cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu kỹ thuật, chứng từ liên quan đến hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định pháp luật hóa chất.

Cơ sở để cơ quan hải quan xác định và yêu cầu người khai hải quan cung cấp bổ sung tài liệu kỹ thuật, chứng từ là thông tin thu thập được về vi phạm trong quá trình nhập khẩu, xuất khẩu, sử dụng hóa chất; thông tin cảnh báo của các cơ quan chức năng khác đối với mặt hàng hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu hoặc vi phạm của doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu.

Trường hợp người khai hải quan không bổ sung thông tin, tài liệu kỹ thuật, chứng từ liên quan đến hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu thì cơ quan hải quan thực hiện phân tích, giám định hàng hóa để xác định bản chất hàng hóa.

+ Đối với các lô hàng hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu rủi ro hoặc nghi vấn có vi phạm nhưng cơ quan hải quan không có cơ sở để yêu cầu người khai hải quan bổ sung thông tin, tài liệu kỹ thuật, chứng từ liên quan đến hóa chất xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định pháp luật hóa chất, thì cơ quan hải quan thực hiện chuyển thông tin cho các cơ quan quản lý chuyên ngành (Cục Hóa chất - Bộ Công Thương, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Bộ Công an) để phối hợp kiểm tra và tăng cường quản lý chặt chẽ sau khi hàng hóa đã thông quan.

+ Tăng cường công tác thu thập thông tin, đánh giá, phân loại doanh nghiệp để thực hiện kiểm tra sau thông quan.

+ Chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất tại đơn vị (doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, mặt hàng hóa chất nhập khẩu, xuất khẩu, các hành vi vi phạm qua địa bàn...) để làm cơ sở thông tin cho việc giải quyết thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất.

Đề nghị Công ty căn cứ nội dung tại công văn nêu trên để thực hiện. Trường hợp có vướng mắc phát sinh, đề nghị Công ty liên hệ trực tiếp với Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục để được hướng dẫn cụ thể.

2. Nội dung thứ hai

- Vấn đề/vướng mắc trong thực tế:

Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với việc ngành Thuế ứng dụng dữ liệu và công nghệ để phát hiện các hành vi mua bán hóa đơn, thành lập doanh nghiệp không hoạt động thực tế hoặc xuất hóa đơn khống đầu ra mà không có hàng hóa mua vào. Tuy nhiên, hệ số K chủ yếu phản ánh mối quan hệ giữa giá trị hàng hóa mua vào, tồn kho và giá trị hóa đơn bán ra. Vì vậy, nếu áp dụng cùng một tiêu chí cho doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ hoặc/và dịch vụ tư vấn thì có thể phát sinh cảnh báo chưa phù hợp.

Trong thực tế, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, phần mềm, đào tạo hoặc dịch vụ chuyên môn không mua bán hàng hóa nhưng vẫn được yêu cầu giải trình khi có sự thay đổi cán bộ quản lý thuế, thậm chí gặp khó khăn trong quá trình sử dụng hóa đơn điện tử.

- Nội dung kiến nghị của doanh nghiệp:

Điều chỉnh tiêu chí kiểm soát rủi ro trong cấu trúc dữ liệu hóa đơn điện tử theo Quyết định 1306/QĐ-CT ngày 13/6/2025 của Cục Thuế; phân nhóm hệ số rủi ro theo từng ngành nghề, mô hình kinh doanh và đặc điểm chi phí; đồng thời loại trừ hoặc xây dựng bộ tiêu chí riêng đối với doanh nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ, không phát sinh hoạt động mua bán hàng hóa.

Việc cảnh báo rủi ro cũng nên được thực hiện theo lộ trình: trước hết là thông báo điện tử để doanh nghiệp tự kiểm tra; tiếp theo là yêu cầu giải trình trực tuyến và không thông báo cho khách hàng dẫn đến NCC bị nghi ngờ và tạm dừng hợp tác hoặc bị loại khỏi vendor list của khách hàng; chỉ tạm ngừng sử dụng hóa đơn khi có dấu hiệu rõ ràng về gian lận hoặc doanh nghiệp không hợp tác. Như vậy sẽ hạn chế việc cơ quan thuế và doanh nghiệp phải gặp gỡ, giải trình nhiều lần, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý.

- Ý kiến phúc đáp:

Đối với ý kiến điều chỉnh tiêu chí kiểm soát rủi ro trong cấu trúc dữ liệu hóa đơn điện tử theo Quyết định số 1306/QĐ-CT ngày 13/6/2025 của Cục Thuế, Cục Thuế sẽ nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp.

Đối với hệ số K hiện chỉ là công cụ cảnh báo rủi ro, đang triển khai đối với người nộp thuế (NNT) có ngành nghề kinh doanh chính thuộc nhóm ngành Thương mại, Sản xuất; chưa áp dụng đối với các doanh nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ, tư vấn, phần mềm, đào tạo... Khi thuộc diện cảnh báo, hệ thống tự động gửi email đến NNT. Do đó, việc cảnh báo không đồng nghĩa với kết luận NNT có vi phạm mà là cơ sở để cơ quan Thuế tiếp tục rà soát, đánh giá rủi ro và thực hiện các bước xử lý theo quy định

3. Nội dung thứ ba

- Nội dung kiến nghị của doanh nghiệp:

Chúng tôi kiến nghị khi ban hành chính sách Thuế và Hải quan có ảnh hưởng rộng đến doanh nghiệp, cơ quan quản lý nên đồng thời công bố ba nội dung: văn bản pháp luật; tài liệu hướng dẫn tình huống thực tế; và bảng so sánh giữa quy định cũ với quy định mới.

Trong thời gian đầu áp dụng, đối với sai sót lần đầu có tính chất kỹ thuật, không làm thiếu số thuế phải nộp, không có dấu hiệu gian lận và doanh nghiệp đã chủ động khắc phục, nên ưu tiên nhắc nhở, hướng dẫn thay vì xử phạt ngay.

Bên cạnh đó, cần xây dựng một cơ sở dữ liệu hỏi - đáp thống nhất toàn ngành. Một vấn đề đã được cơ quan trung ương hướng dẫn thì các cơ quan thuế, hải quan địa phương và cộng đồng doanh nghiệp có thể tra cứu, áp dụng chung. Cơ chế này sẽ giảm đáng kể tình trạng cùng một quy định nhưng mỗi địa phương có một cách hiểu khác nhau.

- Ý kiến phúc đáp:

Khi ban hành chính sách mới, Cục Thuế đã có công bố văn bản pháp luật, có đăng văn bản nêu rõ điểm mới của văn bản và các hướng dẫn tình huống thực tế được đăng thành các bài hướng dẫn, hỗ trợ, tổ chức các buổi livestream hoặc hội nghị. Tiếp thu ý kiến, Cục Thuế sẽ tăng cường thông tin trên nhiều kênh để nội dung được tiếp cận rộng rãi, giúp doanh nghiệp nhận diện nhanh các nội dung thay đổi, hiểu đúng và thực hiện đúng ngay từ khi chính sách có hiệu lực, qua đó giảm chi phí tuân thủ và hạn chế sai sót phát sinh.

Đối với các sai sót phát sinh trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách mới, Cơ quan Thuế chia sẻ quan điểm cần tăng cường hướng dẫn, cảnh báo và hỗ trợ người nộp thuế chủ động phòng ngừa, phát hiện và khắc phục sai sót, đặc biệt đối với những sai sót có tính chất kỹ thuật, không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp và không có dấu hiệu gian lận.

Công văn 6297/CT-QLTT Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan ra sao?

Công văn 6297/CT-QLTT Cục thuế trả lời vướng mắc, kiến nghị trong lĩnh vực thuế, hải quan ra sao? (Hình từ Internet)

Quy định về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan từ ngày 01/3/2027 theo Luật Hải quan sửa đổi ra sao?

Căn cứ Điều 17a Luật Hải quan 2014 được bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật Hải quan sửa đổi 2026 quy định về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan từ ngày 01/3/2027 như sau:

(1) Cơ quan hải quan thực hiện quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan, bao gồm: thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu hải quan; xây dựng, quản lý hồ sơ tuân thủ; giám sát, đánh giá tuân thủ; thực hiện các biện pháp hỗ trợ người khai hải quan tuân thủ tự nguyện và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp theo mức độ tuân thủ pháp luật. Cơ quan hải quan quản lý hệ thống thông tin nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để thực hiện quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan.

(2) Người khai hải quan tuân thủ pháp luật được xem xét ưu tiên thực hiện thủ tục hải quan, miễn, giảm mức độ kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các hoạt động nghiệp vụ khác đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

(3) Chính phủ quy định chi tiết Điều 17a Luật Hải quan 2014.

Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan từ ngày 01/3/2027 ra sao?

Căn cứ Điều 18 Luật Hải quan 2014 được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a, điểm b khoản 7 Điều 1 Luật Hải quan sửa đổi 2026 quy định về quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan từ ngày 01/3/2027 như sau:

(1) Người khai hải quan có quyền:

- Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc khai hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải, hướng dẫn làm thủ tục hải quan, phổ biến pháp luật về hải quan;

- Yêu cầu cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa khi đã cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cho cơ quan hải quan;

- Xem trước hàng hóa, lấy mẫu hàng hóa dưới sự giám sát của công chức hải quan trước khi khai hải quan để bảo đảm việc khai hải quan được chính xác;

- Yêu cầu cơ quan hải quan kiểm tra lại thực tế hàng hóa đã kiểm tra, nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan hải quan trong trường hợp hàng hóa chưa được thông quan;

- Sử dụng hồ sơ hải quan để thông quan hàng hóa, vận chuyển hàng hóa, thực hiện các thủ tục có liên quan với các cơ quan khác theo quy định của pháp luật;

- Khiếu nại, tố cáo hành vi trái pháp luật của cơ quan hải quan, công chức hải quan;

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại do cơ quan hải quan, công chức hải quan gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

(2) Người khai hải quan là chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải, chủ quản nền tảng thương mại điện tử, người thực hiện dịch vụ quá cảnh, trung chuyển hàng hóa có nghĩa vụ:

- Khai hải quan và làm thủ tục hải quan theo quy định của Luật Hải quan 2014;

- Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin để cơ quan hải quan thực hiện xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình; về sự thống nhất nội dung thông tin giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ lưu tại cơ quan hải quan;

- Thực hiện quyết định và yêu cầu của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải;

- Lưu giữ hồ sơ hải quan đối với hàng hóa đã được thông quan trong thời hạn 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán và các chứng từ khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trong thời hạn do pháp luật quy định; xuất trình hồ sơ, cung cấp thông tin, chứng từ liên quan khi cơ quan hải quan yêu cầu kiểm tra theo quy định tại các điều 32, 79 và 80 Luật Hải quan 2014;

- Bố trí người, phương tiện thực hiện các công việc liên quan để công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải;

- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan.

(3) Người khai hải quan là đại lý làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d, e và g khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan 2014 trong phạm vi được ủy quyền. Người khai hải quan là người điều khiển phương tiện vận tải thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm a, c, d, e và g khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan 2014. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d, e và g khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan 2014.

*Lưu ý: Luật Hải quan sửa đổi 2026 có hiệu lực từ ngày 01/3/2027.

Phạm Thị Hồng
Phạm Thị Hồng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Kế toán - Kiểm toán Xem thêm

Bài viết mới nhất