- Hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công là gì?
- Hướng dẫn xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công ra sao?
- Nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí từ 1/7/2026 chi tiết ra sao?
Hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công là gì?
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Tiết kiệm chống lãng phí 2025 có quy định về các hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công bao gồm:
(1) Quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, trừ dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật;
(2) Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo quy định; quyết định đầu tư hoặc quyết định điều chỉnh chương trình, dự án không đúng thẩm quyền, không đúng với các nội dung về mục tiêu, địa điểm, vượt mức vốn đầu tư công trong chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định;
(3) Thông đồng với tổ chức tư vấn, thẩm định, định giá, nhà thầu dẫn tới quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư gây thất thoát, lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước, tài nguyên quốc gia. Yêu cầu tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư khi chưa được quyết định chủ trương đầu tư, chưa được phê duyệt, gây nợ đọng xây dựng cơ bản;
(4) Đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, bán, cho thuê, cho mượn, sử dụng tài sản công, sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định;
(5) Chậm giải ngân vốn đầu tư công do nguyên nhân chủ quan; không quyết toán, chậm quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công dẫn đến lãng phí;
(6) Giao tài sản công cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân vượt định mức, tiêu chuẩn không đúng đối tượng hoặc giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân không có nhu cầu sử dụng. Sử dụng xe ô tô và tài sản công khác do tổ chức, cá nhân tặng cho không đúng mục đích, chế độ, vượt định mức, tiêu chuẩn;
(7) Sử dụng hoặc không sử dụng tài sản công được giao gây lãng phí; sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng với mục đích sử dụng của tài sản, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao; sử dụng tài sản công để kinh doanh trái pháp luật;
(8) Xử lý tài sản công trái quy định của pháp luật; hủy hoại, cố ý làm hư hỏng, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép tài sản công;
(9) Không xử lý kịp thời đối với tài sản công không sử dụng được, không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng hiệu quả thấp, không đạt mục tiêu đã định;
(10) Thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản công, gây lãng phí.

Hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công là gì? (hình từ Internet)
Hướng dẫn xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công ra sao?
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Nghị định 266/2026/NĐ-CP có hướng dẫn xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí trong quản lý sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công cụ thể như sau:
Đối với hành vi trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công nêu tại mục (1), (2), (3), (4), (5) phần trên được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:
- Gây thất thoát ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên quốc gia;
- Làm tăng chi ngân sách nhà nước do thực hiện các hành vi nêu tại mục (2), (4), (5);
- Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư;
- Kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt.
Hành vi trong đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công tại các mục (4), (6), (7), (8), (9), (10) được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:
- Tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm, giao vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật (vượt diện tích đối với trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; vượt số lượng, mức giá đối với xe ô tô, máy móc, thiết bị và tài sản công khác mà pháp luật quy định về số lượng, mức giá);
- Tài sản công bị hư hỏng, thất thoát, hao hụt vượt định mức theo quy định;
- Tài sản công là trụ sở làm việc không được đưa vào sử dụng liên tục quá 12 tháng; đối với tài sản công khác, thời hạn không được đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan;
- Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không sử dụng được;
- Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, bồi thường thiệt hại.
Nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí từ 1/7/2026 chi tiết ra sao?
Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Luật Tiết kiệm chống lãng phí 2025 có quy định về các nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí từ 1/7/2026 chi tiết như sau:
- Tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục từ chủ trương, đường lối, xây dựng và thi hành pháp luật gắn với tổng kết, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát.
- Việc đánh giá tiết kiệm, chống lãng phí phải dựa trên định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan có thẩm quyền ban hành, kết hợp với đánh giá tổng thể về kết quả thực hiện nhiệm vụ, chất lượng đầu ra, hiệu quả sử dụng nguồn lực và tác động xã hội.
- Tiết kiệm, chống lãng phí phải gắn với cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
- Thực hiện phân cấp quản lý, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ được giao gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để tiết kiệm, chống lãng phí.
- Bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch và vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân trong việc tiết kiệm, chống lãng phí.
- Trong xử lý hành vi gây lãng phí cần phân biệt rõ giữa hành vi gây lãng phí do thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật với các rủi ro khách quan trong quá trình đổi mới, thực hiện cơ chế, chính sách thí điểm, khuyến khích cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];