Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần được tổ chức khi nào và chỉ được tiến hành khi có bao nhiêu thành viên tham dự?

Nguyễn Bình An 1,805 lượt xem
11:02 | 01/07/2024
Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần được tổ chức khi nào và chỉ được tiến hành khi có bao nhiêu thành viên tham dự? Thành viên Hội đồng quản trị có quyền đề nghị tiến hành cuộc họp Hội đồng quản trị không?
Nội dung chính
  1. Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần được tổ chức khi nào và chỉ được tiến hành khi có bao nhiêu thành viên tham dự?
  2. Thành viên tham dự cuộc họp Hội đồng quản trị trực tuyến thông qua các nền tảng ứng dụng thì có được xem là tham dự cuộc họp hay không?
  3. Thành viên Hội đồng quản trị có quyền đề nghị tiến hành cuộc họp Hội đồng quản trị không?

Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần được tổ chức khi nào và chỉ được tiến hành khi có bao nhiêu thành viên tham dự?

Căn cứ theo quy định tại khoản 8 Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:

Cuộc họp Hội đồng quản trị
...
7. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người triệu tập gửi thông báo mời họp và các tài liệu kèm theo đến các Kiểm soát viên như đối với các thành viên Hội đồng quản trị.
Kiểm soát viên có quyền dự các cuộc họp Hội đồng quản trị; có quyền thảo luận nhưng không được biểu quyết.
8. Cuộc họp Hội đồng quản trị được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dự họp. Trường hợp cuộc họp được triệu tập theo quy định tại khoản này không đủ số thành viên dự họp theo quy định thì được triệu tập lần thứ hai trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thời hạn khác ngắn hơn. Trường hợp này, cuộc họp được tiến hành nếu có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị dự họp.
...

Theo đó, cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 được tổ chức trong thời gian 07 ngày (trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thời hạn khác ngắn hơn) kể từ ngày dự định họp ở lần thứ nhất do không đủ số lượng ba phần tư tổng số thành viên Hội đồng quản trị dự.

Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần chỉ được tiến hành khi có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị tham dự họp.

Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần được tổ chức khi nào và chỉ được tiến hành khi có bao nhiêu thành viên tham dự?

Cuộc họp Hội đồng quản trị lần thứ 2 của công ty cổ phần được tổ chức khi nào và chỉ được tiến hành khi có bao nhiêu thành viên tham dự? (Hình từ Internet)

Thành viên tham dự cuộc họp Hội đồng quản trị trực tuyến thông qua các nền tảng ứng dụng thì có được xem là tham dự cuộc họp hay không?

Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 9 Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:

Cuộc họp Hội đồng quản trị
...
9. Thành viên Hội đồng quản trị được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp trong trường hợp sau đây:
a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;
b) Ủy quyền cho người khác đến dự họp và biểu quyết theo quy định tại khoản 11 Điều này;
c) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác;
d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử;
đ) Gửi phiếu biểu quyết bằng phương tiện khác theo quy định trong Điều lệ công ty.
10. Trường hợp gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, phiếu biểu quyết phải đựng trong phong bì dán kín và phải được chuyển đến Chủ tịch Hội đồng quản trị chậm nhất là 01 giờ trước khi khai mạc. Phiếu biểu quyết chỉ được mở trước sự chứng kiến của tất cả những người dự họp.
...

Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp khi tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến.

Do đó, trong trường hợp cuộc họp Hội đồng quản trị được tổ chức trực tiếp nhưng thành viên lại tham dự cuộc họp Hội đồng quản trị trực tuyến thông qua các nền tảng ứng dụng thì không được xem là tham dự cuộc họp.

Thành viên Hội đồng quản trị có quyền đề nghị tiến hành cuộc họp Hội đồng quản trị không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:

Cuộc họp Hội đồng quản trị
1. Chủ tịch Hội đồng quản trị được bầu trong cuộc họp đầu tiên của Hội đồng quản trị trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc bầu cử Hội đồng quản trị đó. Cuộc họp này do thành viên có số phiếu bầu cao nhất hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất triệu tập và chủ trì. Trường hợp có nhiều hơn một thành viên có số phiếu bầu hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất và ngang nhau thì các thành viên bầu theo nguyên tắc đa số để chọn 01 người trong số họ triệu tập họp Hội đồng quản trị.
2. Hội đồng quản trị họp ít nhất mỗi quý một lần và có thể họp bất thường.
3. Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập họp Hội đồng quản trị trong trường hợp sau đây:
a) Có đề nghị của Ban kiểm soát hoặc thành viên độc lập Hội đồng quản trị;
b) Có đề nghị của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hoặc ít nhất 05 người quản lý khác;
c) Có đề nghị của ít nhất 02 thành viên Hội đồng quản trị;
d) Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.
...

Theo quy định trên thì chỉ có thành viên độc lập Hội đồng quản trị có quyền đề nghị tiến hành cuộc họp Hội đồng quản trị.

Tuy nhiên, trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác thì vẫn có thể áp dụng.

Như vậy, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần có quyền đề nghị tiến hành cuộc họp Hội đồng quản trị nếu trong Điều lệ công ty có quy định.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Bình An Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Doanh nghiệp Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Thế nào là tình trạng khẩn cấp theo Luật Tình trạng khẩn cấp 2025? Tình trạng khẩn cấp bao gồm những tình trạng nào?

Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội được cấp có thẩm quyền ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp tại một hay nhiều địa phương hoặc trên phạm vi cả nước khi có thảm họa hoặc nguy cơ xảy ra thảm họa do đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân hoặc có tình hình do đe dọa nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội