Chất 6-Benzylaminopurine là gì? Chất 6-Benzylaminopurine có thuộc danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng không?

Nguyễn Vĩnh Kỳ 600 lượt xem
15:45 | 02/06/2026
Nội dung dưới đây có nêu rõ "Chất 6-Benzylaminopurine là gì? Chất 6-Benzylaminopurine có thuộc danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng không?".
Nội dung chính
  1. Chất 6-Benzylaminopurine là gì? Chất 6-Benzylaminopurine có được sử dụng để sản xuất thực phẩm không?
  2. Chất 6-Benzylaminopurine có thuộc danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng không?
  3. Nguyên tắc quản lý và Chính sách của Nhà nước an toàn thực phẩm hiện nay như thế nào?

Chất 6-Benzylaminopurine là gì? Chất 6-Benzylaminopurine có được sử dụng để sản xuất thực phẩm không?

Chất 6-Benzylaminopurine (viết tắt là 6-BAP) là một hormone thực vật thuộc nhóm Cytokinin thế hệ đầu tiên.

Đây là một chất điều hòa sinh trưởng chất lượng cao, được sử dụng rộng rãi trong cả nghiên cứu phòng thí nghiệm và trong canh tác nông nghiệp thực tế nhằm kích thích sự phát triển của cây trồng.

Tuy nhiên, Chất 6-Benzylaminopurine được xem là chất gây hại đến sức khỏe con người, cụ thể khi 6-Benzylaminopurine vào cơ thể thì có thể gây kích thích tế bào sinh sản, ảnh hưởng đến thai nhi và có nguy cơ gây ung thư.

*Thông tin trên chri mang tính chất tham khảo

Xem thêm:

>> Tổng hợp mức phạt hình sự về tội buôn bán hàng giả là thực phẩm theo Điều 193 Bộ luật Hình sự hiện nay ra sao?

>> Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển thực phẩm hiện nay được quy định như thế nào?

*Trên đây là thông tin về "Chất 6-Benzylaminopurine là gì?"

Chất 6-Benzylaminopurine là gì?

Chất 6-Benzylaminopurine là gì? (Hình từ internet)

Chất 6-Benzylaminopurine có thuộc danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng không?

Chất 6-Benzylaminopurine là hóa chất không thuộc danh mục được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm (theo Thông tư 24/2019/TT-BYT)không thuộc danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT).

Nguyên tắc quản lý và Chính sách của Nhà nước an toàn thực phẩm hiện nay như thế nào?

Về nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm

(Điều 3 Luật An toàn thực phẩm 2010)

(1) Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

(2) Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh.

(3) Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng.

(4) Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.

(5) Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành.

(6) Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Về chính sách của Nhà nước về an toàn thực phẩm

(Điều 4 Luật An toàn thực phẩm 2010 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018)

(1) Xây dựng chiến lược quốc gia về an toàn thực phẩm.

(2) Sử dụng nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác đầu tư nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; xây dựng mới, nâng cấp một số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực, quốc tế; nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; hỗ trợ đầu tư xây dựng các vùng sản xuất nguyên liệu thực phẩm an toàn, chợ đầu mối nông sản thực phẩm, cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm quy mô công nghiệp.

(3) Khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất; sản xuất thực phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn; bổ sung vi chất dinh dưỡng thiết yếu trong thực phẩm; xây dựng thương hiệu và phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn.

(4) Thiết lập khuôn khổ pháp lý và tổ chức thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành nông nghiệp tốt (GAP), Thực hành vệ sinh tốt (GHP), Phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) và các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

(5) Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ký kết điều ước, thoả thuận quốc tế về công nhận, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực thực phẩm.

(6) Khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn.

(7) Khuyến khích, tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm.

(8) Tăng đầu tư, đa dạng các hình thức, phương thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách nhiệm và đạo đức kinh doanh của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Vĩnh Kỳ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thương mại Xem thêm

Bài viết mới nhất