Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định thế nào?

— 91 lượt xem
21:30 | 28/11/2025
Theo quy định tại Nghị định 219, trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định thế nào?
Nội dung chính
  1. Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định thế nào?
  2. Có bị thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nếu người sử dụng lao động ở nước ngoài chấm dứt hoạt động?
  3. Thẩm quyền thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định như thế nào?

Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định thế nào?

Căn cứ vào Điều 33 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động
1. Đối với trường hợp quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 32 Nghị định này, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động hết hiệu lực, người sử dụng lao động thu hồi giấy xác nhận để nộp lại cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy xác nhận kèm theo văn bản báo cáo trường hợp thu hồi. Trường hợp không thu hồi được phải nêu rõ lý do.
2. Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 và 5 Điều 32 Nghị định này, cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động ra quyết định thu hồi giấy xác nhận, gửi thông báo cho người sử dụng lao động nộp lại giấy xác nhận và Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) để biết, phối hợp quản lý.

Theo đó, trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định như sau:

- Đối với trường hợp quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 32 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động hết hiệu lực, người sử dụng lao động thu hồi giấy xác nhận để nộp lại cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy xác nhận kèm theo văn bản báo cáo trường hợp thu hồi. Trường hợp không thu hồi được phải nêu rõ lý do.

- Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 và 5 Điều 32 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động ra quyết định thu hồi giấy xác nhận, gửi thông báo cho người sử dụng lao động nộp lại giấy xác nhận và Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) để biết, phối hợp quản lý.

Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định thế nào?

Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định thế nào? (Hình từ Internet)

Có bị thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nếu người sử dụng lao động ở nước ngoài chấm dứt hoạt động?

Căn cứ vào Điều 32 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Trường hợp bị thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động
1. Làm việc không đúng với nội dung trong giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đã được cấp.
2. Có văn bản thông báo của người sử dụng lao động tại nước ngoài về việc không tiếp tục làm việc tại Việt Nam.
3. Người sử dụng lao động tại Việt Nam hoặc nước ngoài chấm dứt hoạt động.
4. Người sử dụng lao động hoặc người lao động nước ngoài không thực hiện đúng quy định về cấp, cấp lại, gia hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động quy định tại Nghị định này.
5. Người lao động nước ngoài trong quá trình làm việc ở Việt Nam không thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam mà bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo đó, nếu người sử dụng lao động ở nước ngoài chấm dứt hoạt động thì có thể bị thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Thẩm quyền thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 4 Nghị định 219/2025/NĐ-CP như sau:

Thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh tại địa phương nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc.
Trường hợp người lao động nước ngoài làm việc cho một người sử dụng lao động tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người sử dụng lao động có trụ sở chính có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật.

Như vậy, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh tại địa phương nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc.

Trường hợp người lao động nước ngoài làm việc cho một người sử dụng lao động tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì UBND cấp tỉnh nơi người sử dụng lao động có trụ sở chính có thẩm quyền thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Vấn đề khác trong lao động Xem thêm

Bài viết mới nhất

Lao Động Tiền Lương
Công ty cho nghỉ việc vì lý do nghỉ ốm quá lâu, có đúng luật?

Người lao động nghỉ ốm trong thời gian dài có bị công ty cho nghỉ việc hay không? Pháp luật quy định thế nào về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi người lao động điều trị bệnh, nghỉ hưởng chế độ ốm đau?