Download Mẫu đánh giá năng lực quản lý mới nhất hiện nay ở đâu?
Đánh giá năng lực quản lý được hiểu là quá trình xem xét và đo lường mức độ mà một nhà quản lý đáp ứng các yêu cầu cần thiết để thực hiện vai trò lãnh đạo và điều hành công việc. Việc đánh giá này tập trung vào các năng lực cốt lõi như khả năng lập kế hoạch, tổ chức công việc, ra quyết định, giao việc và giám sát, giải quyết vấn đề, quản lý nhân sự, giao tiếp – phối hợp, tư duy chiến lược và khả năng thúc đẩy hiệu quả làm việc của đội ngũ. Kết quả đánh giá giúp doanh nghiệp hiểu rõ điểm mạnh, điểm hạn chế của người quản lý, từ đó đưa ra kế hoạch đào tạo, phát triển, bố trí nhân sự phù hợp hoặc làm căn cứ cho xét thưởng và thăng tiến.
Hiện nay, Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật liên quan khác chưa quy định cụ thể về Mẫu đánh giá năng lực quản lý.
Người sử dụng lao động có thể tham khảo Mẫu đánh giá năng lực quản lý dưới đây:

>> Tải Mẫu đánh giá năng lực quản lý: TẠI ĐÂY
>> Tải Mẫu đánh giá năng lực nhân viên số 1: TẠI ĐÂY
>> Tải Mẫu đánh giá năng lực nhân viên số 2: TẠI ĐÂY
>> Tải Mẫu đánh giá năng lực nhân viên số 3: TẠI ĐÂY
>> Tải về: Xem chi tiết Mẫu Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc dùng trong doanh nghiệp hiện nay

Download Mẫu đánh giá năng lực quản lý mới nhất hiện nay ở đâu? (Hình từ Internet)
Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc của doanh nghiệp do ai ban hành?
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.
Ngoài ra, căn cứ theo theo Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Như vậy, tại doanh nghiệp thì quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do doanh nghiệp ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Mức độ hoàn thành công việc của quản lý ảnh hưởng đến khoản tiền thưởng như thế nào?
Căn cứ theo Điều 104 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Thưởng
1. Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.
2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Theo đó mức độ hoàn thành công việc của người lao động là căn cứ mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];