Quyết định giám đốc thẩm 42/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 42/2008/DS-GĐT NGÀY 23/12/2008 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp quyền sở hữu giữa:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thành Đạt; có trụ sở tại số 306 E11, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, đại diện là ông Đỗ Văn Nho, chức vụ Giám đốc.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Phẫu, sinh năm 1964; trú tại khu 10, xã Tân Phú, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thành Đạt (từ đây gọi tắt là Công ty Thành Đạt) đề ngày 02-4-2004 và các lời khai của đại diện là ông Đỗ Văn Nho thì:

Công ty có chiếc máy xúc hiệu DAEOO/SOLAR 130W-III có số khung SL 130W-1955, số máy DB58-400258, mua của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thương mại và Dịch vụ Thiên Hòa Lợi (gọi tắt là Công ty Thiên Hòa Lợi) vào ngày 18-4-2003 với số tiền 134.925.000 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số CN 047204.

Sau khi mua được máy, Công ty Thành Đạt đã đưa máy xúc lên thi công tại công trình đường giao thông nông thôn huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn LA. Công ty Thành Đạt ký hợp đồng giao cho ông Nguyễn Văn Phẫu trực tiếp khai thác quản lý máy. Ông Phẫu không thực hiện hợp đồng, đưa máy về làm riêng. Hết thời hạn, ông Phẫu không giao máy và nộp tiền cho Công ty Thành đạt. Ông Nho đề nghị Tòa án xác nhận chiếc máy xúc trên thuộc quyền sở hữu của Công ty Thành Đạt, buộc ông Phẫu trả máy và số tiền thuê máy là 152.000.000 đồng.

Ngày 06-7-2004, Công ty Thành Đạt thay đổi yêu cầu đề nghị tách yêu cầu thanh toán tiền thuê máy thành vụ kiện khác.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn Phẫu trình bày: Chiếc máy xúc đang tranh chấp là của ông và của ông Nho mua chung, mỗi người 1/2 tiền, giá trị lúc mua chiếc máy xúc là 288.000.000 đồng, nhưng Công ty Thiên Hòa Lợi ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng là 134.925.000 đồng. Ông là người đi mua máy và trả tiền làm ba lần với tổng số tiền là 132.000.000 đồng (theo các phiếu thu ngày 09-3-2003 là 50.000.000 đồng; phiếu thu ngày 10-4-2003 là 77.000.000 đồng; phiếu thu ngày 20-4-2003 là 5.000.000 đồng); số còn lại là tiền thuê trở máy ông đưa cho ông Nho. Ông yêu cầu xác định chiếc máy xúc là tài sản chung của ông và ông Nho.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 19-10-2004, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định:

1. Xác nhận chiếc máy xúc hiệu DEWOO/SOLAR có số khung SL 130W-195; số máy DB58-400258 là tài sản của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Thành Đạt.

2. Hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01 ngày 14-9-2004 và biên bản bàn giao tài sản kê biên ngày 16-9-2004 của Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ.

Trả lại chiếc máy xúc trên cho chủ sở hữu là Công ty cỏ phần đầu tư xây dựng và thương mại Thành Đạt do ông Đỗ Văn Nho Giám đốc làm đại diện.

3. Tách riêng việc thanh toán nợ nần thành vụ kiện khác khi các bên có yêu cầu

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 25-10-2004, ông Nguyễn Văn Phẫu kháng cáo đề nghị trả lại cho ông giá trị 1/2 chiếc máy xúc.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 271/2005/DSPT ngày 21-12-2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:

Giữ nguyên các quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 04/2005/DSST ngày 19-10-2004 cua Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Phẫu có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 221/2008/KN-DS ngày 25-7-2008, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 19-10-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định Công ty Thành Đạt là chủ sở hữu máy xúc trên cơ sở xác định hóa đơn giá trị gia tăng số CN 047204 là hợp pháp. Tuy nhiên, hóa đơn này chưa đảm bảo giá trị pháp lý chặt chẽ và có dấu hiệu được lập không khách quan, không đúng với thực tế giao dịch. Hóa đơn giá trị gia tăng số CN 047204 do Công ty Thiên Hòa Lợi phát hành ngày 18-4-2003đứng tên người mua máy xúc là ông Đỗ Văn Nho; đơn vị: Công ty Xây dựng và Đầu tư Thương mại Thành Đạt, nhưng lại đóng dấu của Công ty Thành Đạt. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì Công ty Thành Đạt được đổi tên và cấp giấy phép đăng ký kinh doanh ngày 15-5-2005. Như vậy, vào thời điểm giao dịch ghi trên hóa đơn thì Công ty Thành Đạt chưa thành lập. Đại diện Công ty Thiên Hòa Lợi xác nhận sau khi đã nhận tiền mua máy nhiều lần mới lập hóa đơn giá trị gia tăng số CN 047204 theo yêu cầu của bên mua máy.

Ông Phẫu xuất trình các phiếu thu ngày 09-03-2003, ngày 10-4-2003 và ngày 20-4-2003 do Công ty Thiên Hòa Lợi phát hành thể hiện thu của ông Phẫu tiền mua máy xúc tổng cộng 132.000.000 đồng. Công ty Thiên Hòa Lợi thừa nhận ông Phẫu là người giao dịch, mua máy và trả tiền. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận các phiếu thu này với lý do không phải là chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính là chưa có đầy đủ căn cứ.

Một số tài liệu khác như: “Hợp đồng kinh tế về việc mua máy xúc” giữa Công ty Thành Đạt và ông Phẫu; “Biên bản cam kết đồng sử dụng máy”; “Đơn xin rút truy cứu về hành vi trộm cắp” do ông Nho viết và ký tên đều có nội dung thể hiện ý chí của ông Nho xác định máy xúc là tài sản chung của ông Nho và ông Phẫu. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không có nhận định, đánh giá gì về những tài liệu này là đánh giá chứng cứ không toàn diện.

Để xác định sự thật về giao dịch, ngoài việc xem xét toàn diện các chứng cứ mà các bên đã cung cấp, cần phải căn cứ vào sổ sách và các chứng từ kế toán khác của bên mua và bên bán. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào hóa đơn giá trị gia tăng, mà không xem xét đến các chứng cứ khác để xác định quyền sở hữu chiếc máy xúc đang tranh chấp là của Công ty Thành Đạt là chưa có căn cứ vững chắc.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 271/2005/DSPT ngày 21/12/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 19/10/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về vụ án tranh chấp quyền sở hữu giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thành đạt với bị đơn là ông Nguyễn Văn Phẫu.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận các phiếu thu là chứng từ hợp pháp, cũng như không xem xét đến các chứng cứ khác để xác định quyền sở hữu chiếc máy xúc đang tranh chấp là chưa có căn cứ vững chắc.


99
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 42/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu

Số hiệu:42/2008/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/12/2008
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về