Bản án 62/2019/HS-ST ngày 27/03/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 62/2019/HS-ST NGÀY 27/03/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2019/HSST ngày 13/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST-HS ngày 15/3/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Tr; Sinh năm: 1987; HKTT: Thôn Yên Khê, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Đạt; Con bà: Trần Thị Hưng; Vợ: Nguyễn Thanh Trà; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có 02 con (Con lớn sinh năm: 2010; Con nhỏ sinh năm: 2012); Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Bản án số 468/2018/HSST ngày 23/ 11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án, về tội:“Buôn bán hàng cấm”. (Thời gian tạm giam từ ngày 05/5/2018 đến ngày 29/8/2018) (Chưa được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 08/01/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Đặng Thị Hà (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm: 1959; HKTT: Số 310, Tôn Đức Thắng, tổ 34, cụm 10, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. (Bà Hà vắng mặt tại phiên tòa);

2. Chị Nguyễn Thanh Trà; Sinh năm: 1985; HKTT: Thôn Yên Khê, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. (Chị Trà có mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/01/2019, Tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, phát hiện Nguyễn Văn Tr điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29T4-8921 đang đứng cùng Đinh Văn Cảnh (Sinh năm: 1992; HKTT: Phường Tân Thanh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình) tại ngõ 1, đường Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Tổ Công tác đã phát hiện giỏ xe phía trước xe máy có một túi nilon màu đen, bên trong có 05 cây thuốc lá nhãn hiệu “Richmond” (Trong đó có: 03 cây thuốc lá “Richmond coffee” và 02 cây thuốc lá“Richmond Cherry”) và 01 cây thuốc lá nhãn nhiệu “H≡≡TS”. Trọng khai nhận số thuốc lá trên, đều là nhập lậu, mang đi giao cho Cảnh, nhưng chưa kịp giao thì bị Công an phường Mỹ Đình 1 phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Tr: 03 cây thuốc lá nhãn hiệu “Richmond Coffee”, màu nâu; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu “Richmond Cherry” màu đỏ; 01 cây thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS”, màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave, màu đỏ, BKS: 29T4-8921, số khung : 398840, số máy: 0398959; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus, màu đen, số IMEI1: 352238066181488, số IMEI2: 352238066181496, số sim: 0359234720 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, màu đen, số IMEI1: 861277030662722, số IMEI 2: 861277031046529, số sim: 0981852187(đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra xác định: Ngày 07/01/2019, Đinh Văn Cảnh đặt mua 05 cây thuốc lá “Richmond” với giá 1.530.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, năm trăm ba mươi nghìn đồng) của bà Đặng Thị Hà (Tên gọi khác: Hiền; Sinh năm: 1959; HKTT: Số 310, Tôn Đức Thắng, tổ 34, cụm 10, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) về để sử dụng. Trọng làm nghề xe ôm, thường đứng khu vực gần nhà bà Hà. Ngày 07/01/2019, Trọng nhận vận chuyển cho bà Hà 05 cây thuốc lá “Richmond” và 01 cây thuốc lá “H≡ ≡TS” đến ngõ 1, đường Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, giao cho Cảnh và nhờ thu hộ 1.530.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, năm trăm ba mươi nghìn đồng) và giao cho một người đàn ông (Không xác định được) ở khu vực đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và thu hộ 650.000 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm, năm mươi nghìn đồng). Trọng thu tiền phí vận chuyển của mỗi khách là 50.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi nghìn đồng). Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Trọng điều khiển xe máy Honda wave, BKS: 29T4-8921 đến ngõ 1, đường Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, để giao thuốc lá cho Cảnh. Trọng chưa kịp giao thuốc lá, thì bị Tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 1 phát hiện, bắt giữ. Trọng khai nhận, khi vận chuyển thuốc lá cho bà Hà, Trọng biết rõ bên trong túi nilon là thuốc lá nhập khẩu nhưng vẫn đồng ý vận chuyển, mục đích để thu lời.

Tại kết luận giám định số: 152/C09(P4) ngày 10/01/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

 “- 02 (Hai) cây thuốc lá (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY”, đều không dán tem nhập khẩu gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY”, được sản xuất tại nước ngoài;

- 03 (Ba) cây thuốc lá (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND COFFEE”, đều không dán tem nhập khẩu gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu “RICHMOND COFFEE”, được sản xuất tại nước ngoài;

- 01 (Một) cây thuốc lá (mỗi cây có 10 bao) mang nhãn hiệu “H≡≡TS”, không dán tem nhập khẩu gửi giám định là thuốc lá “H≡≡TS”, được sản xuất dưới dạng điếu (mỗi bao có 20 điếu), ghi sử dụng với thiết bị “IQOS”, được sản xuất tại nước ngoài;

- Theo Thông tư 124/2007/TT-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính thuốc lá điếu nhập khẩu vào Việt Nam phải có “tem thuốc lá điếu nhập khẩu” do Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát hành và dán trên từng bao.

- Hiện tại, Viện khoa học hình sự chưa tìm thấy các văn bản quy phạm pháp luật quy định thuốc lá mang nhãn hiệu “H≡≡TS” trên là thuốc lá điếu hay không và không đủ điều kiện để giám định các mẫu thuốc lá “H≡≡TS” và “RICHMOND” trên là của nước nào sản xuất.

Hoàn lại đối tượng giám định: 02 (Hai) cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “RICHMOND COFFEE”, 01 (Một) cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY” và 09 (Chín) bao thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS” có biên bản kèm theo./.”.

Đối với hành vi kinh doanh thuốc lá nhập khẩu của bà Đặng Thị Hà, bà Hà khai nhận: Ngày 07/01/2019, bà Hà đưa Trọng 05 cây thuốc lá nhãn hiệu “Richmond”, 01 cây thuốc lá “H≡≡TS” để giao cho khách ở quận Nam Từ Liêm, phí vận chuyển 50.000 đồng/1 người/1 lượt. Nguồn gốc số thuốc lá trên do bà Hà mua trôi nổi trên thị trường bán kiếm lời, không nhớ mua của ai, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Ngày 27/02/2019, Công an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 184/QĐ-XPVPHC về hành vi: “Kinh doanh hàng hóa nhập lậu” và “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, với số tiền 7.800.000 đồng (Bằng chữ: Bẩy triệu, tám trăm nghìn đồng).

Đối với hành vi vận chuyển 01 cây thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS” của Trọng, ngày 27/02/2019, Công an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 185/QĐ-XPVPHC về hành vi: Cố ý vận chuyển hàng hóa nhập lậu, là 01 cây thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS”, với số tiền 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).

Đối với hành vi mua thuốc lá của Đinh Văn Cảnh, Cảnh khai nhận: Đặt mua 05 cây thuốc lá nhãn hiệu “Richmond” về sử dụng, nhưng chưa nhận được thuốc lá thì bị Công an phường Mỹ Đình 1 bắt giữ, do đó không có căn cứ xử lý.

Về nguồn gốc chiếc xe máy Honda wave, BKS: 29T4-8921, Trọng sử dụng để vận chuyển thuốc lá, xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xác định: Xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ, biển số: 29T4-8921, đăng ký mới: 16/8/2004, chủ xe Nguyễn Thanh Trà (Vợ Trọng). Ngày 07/01/2019, Trọng mượn xe của chị Trà đi làm xe ôm, chị Trà không biết Trọng dùng để vận chuyển thuốc lá.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Trọng đã khai nhận hành vi phạm tội.

Bản Cáo trạng số 92/CT-VKSNTL ngày 12/3/2019 của Viện kiểm sát nhân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội:“Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều luật quy định:

 “1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

e) Hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn Tr thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội:“Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo và kết luận giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội:“Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đã bị kết án về tội:“Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, là tình tiết định tội thuộc trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo Tr từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hình phạt 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án đã có hiệu lực pháp luật số 468/2018/HSST ngày 23/ 11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo về tội:“Buôn bán hàng cấm”, nay chuyển thành hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 và Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Không;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018, về việc: Quy định việc thực hiện tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu là thuốc lá giả, thuốc lá không đảm bảo chất lượng và thí điểm bán đấu giá thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu đảm bảo chất lượng để xuất khẩu ra nước ngoài; Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, bán đấu giá để xuất khẩu ra nước ngoài đối với số thuốc lá ngoại, nhập lậu còn đảm bảo chất lượng, là vật chứng của vụ án. Số lượng thuốc lá sau khi giám định, còn là: 01 (Một) cây thuốc lá điếu (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY”, đều không dán tem nhập khẩu; 02 (Hai) cây thuốc lá điếu (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND COFFEE”, đều không dán tem nhập khẩu; 09 (Chín) bao thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS”, không dán tem nhập khẩu, được sản xuất dưới dạng điếu (mỗi bao có 20 điếu), ghi sử dụng với thiết bị “IQOS” (Đã được niêm phong của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an).

Trong trường hợp số thuốc lá nêu trên không đảm bảo chất lượng để xuất khẩu, thì tịch thu tiêu hủy; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, màu đen, số IMEI1: 861277030662722, số IMEI 2: 861277031046529, số sim: 0981852187, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; Trả lại Bị cáo Tr: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus, màu đen - ghi có số IMEI1: 352238066181488, số IMEI2: 352238066181496, số sim: 0359234720 và trả lại chị Nguyễn Thanh Trà: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29T4-8921, vì không phải là vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/01/2019, Tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, phát hiện Nguyễn Văn Tr có hành vi vận chuyển 05 (Năm) cây thuốc lá (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) được sản xuất tại nước ngoài, trong đó có: 02 (Hai) cây mang nhãn hiệu “Richmond Cherry”, 03 (Ba) cây mang nhãn hiệu “Richmond Coffee”, đều không dán tem nhập khẩu, thì bị bắt giữ cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của Bị cáo Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chính sách độc quyền của Nhà Nước về quản lý thuốc lá nhập ngoại, thuộc loại hàng hóa có tính năng và tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân cũng như trật tự an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ thuốc lá điếu được sản xuất tại nước ngoài, thuộc loại hàng hóa mà Nhà Nước quy định việc mua bán, lưu thông trên thị trường Việt Nam phải có tem thuốc lá điếu nhập khẩu do Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát hành và dán trên từng bao, nhưng bị cáo vẫn cố ý vận chuyển để thu lợi, vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tr đã bị kết án về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, là tình tiết định tội thuộc trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo được thể hiện ở mục đích phạm tội; Căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Nhận thấy, Bản án đã có hiệu lực pháp luật số 468/2018/HSST ngày 23/ 11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án, về tội:“Buôn bán hàng cấm”, nay chuyển thành hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 56 và Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;

[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo Tr từ 09 tháng đến 12 tháng tù, là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.

[7] Về dân sự: Không.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018, về việc: Quy định việc thực hiện tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu là thuốc lá giả, thuốc lá không đảm bảo chất lượng và thí điểm bán đấu giá thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu đảm bảo chất lượng để xuất khẩu ra nước ngoài; Tịch thu, bán đấu giá để xuất khẩu ra nước ngoài đối với thuốc lá ngoại, nhập lậu còn đảm bảo chất lượng, là vật chứng của vụ án. Số lượng thuốc lá sau khi giám định, còn là: 01 (Một) cây thuốc lá điếu (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY”, đều không dán tem nhập khẩu; 02 (Hai) cây thuốc lá điếu (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND COFFEE”, đều không dán tem nhập khẩu; 09 (Chín) bao thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS”, không dán tem nhập khẩu, được sản xuất dưới dạng điếu (mỗi bao có 20 điếu), ghi sử dụng với thiết bị “IQOS” (Đã được niêm phong của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an). Trong trường hợp số thuốc lá nêu trên không đảm bảo chất lượng để xuất khẩu, thì tịch thu tiêu hủy. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, màu đen, số IMEI1: 861277030662722, số IMEI 2: 861277031046529, số sim: 0981852187, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; Trả lại Bị cáo Tr: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus, màu đen - ghi có số IMEI1: 352238066181488, số IMEI2: 352238066181496, số sim: 0359234720 và trả lại chị Nguyễn Thanh Trà: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave, màu đỏ, BKS: 29T4-8921, vì không phải là vật chứng, như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội:“Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ vào Điểm e Khoản 1 Điều 191; Điều 38; Khoản 2 Điều 56; Khoản 5 Điều 65; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tr 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án đã có hiệu lực pháp luật số 468/2018/HSST ngày 23/ 11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án, về tội: “Buôn bán hàng cấm”, nay chuyển thành hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2019 (Được trừ thời gian tạm giam của bản án trước từ ngày 05/5/2018 đến ngày 29/8/2018).

Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018, về việc: Quy định việc thực hiện tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu là thuốc lá giả, thuốc lá không đảm bảo chất lượng và thí điểm bán đấu giá thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu đảm bảo chất lượng để xuất khẩu ra nước ngoài;

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, bán đấu giá để xuất khẩu ra nước ngoài đối với thuốc lá ngoại nhập lậu còn đảm bảo chất lượng, gồm có: 01 (Một) cây thuốc lá điếu (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY”, đều không dán tem nhập khẩu; 02 (Hai) cây thuốc lá điếu (mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu) đều mang nhãn hiệu “RICHMOND COFFEE”, đều không dán tem nhập khẩu; 09 (Chín) bao thuốc lá nhãn hiệu “H≡≡TS”, không dán tem nhập khẩu, được sản xuất dưới dạng điếu (mỗi bao có 20 điếu), ghi sử dụng với thiết bị “IQOS” (Đã được niêm phong của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an). Trong trường hợp số thuốc lá nêu trên không đảm bảo chất lượng để xuất khẩu, thì tịch thu tiêu hủy; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, số IMEI1: 861277030662722, số IMEI 2: 861277031046529, số sim: 0981852187; Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus, số IMEI1: 352238066181488, số IMEI2: 352238066181496, số sim: 0359234720 (Đã qua sử dụng) và trả lại chị Nguyễn Thanh Trà: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29T4- 8921; Số khung: 398840; Số máy: 0398959 (Xe đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 104 ngày 13/3/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1, 4 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Về án phí: Bị cáo Tr phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, chị Trà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Hà vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


66
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về