Xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng mới nhất cập nhật đến tháng 5/2026

1,740 lượt xem
10:50 | 28/05/2026
Xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là vấn đề pháp lý luôn nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận, đặc biệt khi các chế tài ngày càng được siết chặt nhằm bảo vệ quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Nội dung chính
  1. 1. Thế nào là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng?
  2. 2. Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
  3. 3. Xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
  4. 4. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng
  5. 5. Kết luận

Bài viết dưới đây sẽ hệ thống lại toàn bộ diện hành vi vi phạm, đi kèm mức xử phạt hành chính và các khung trách nhiệm hình sự mới nhất được cập nhật đến tháng 5/2026.

Bài viết với sự chia sẻ từ Luật sư Trần Viết Hà – Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Hà và Cộng sự nhằm phân tích, làm rõ từng căn cứ pháp lý cốt lõi theo quy định hiện hành. Qua đó, giúp bạn đọc hiểu rõ ranh giới giữa xử phạt hành chính và nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với nhóm hành vi này.

1. Thế nào là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng?

Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình. Đây không chỉ là chuẩn mực đạo đức xã hội mà còn là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc. Theo đó, bất kỳ hành vi nào làm phá vỡ sự ràng buộc hôn nhân hợp pháp đều bị xem là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

Ví dụ điển hình là việc một người đang có vợ hoặc chồng nhưng vẫn chung sống như vợ chồng với người khác. Mặc dù về hình thức vẫn chỉ có một quan hệ hôn nhân hợp pháp, nhưng hành vi này đã trực tiếp xâm phạm và phá vỡ chế độ hôn nhân được pháp luật bảo vệ.

Do đó, pháp luật xác định rõ:

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác;

- Người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có chồng, có vợ

Đều bị coi là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

2. Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cốt lõi của pháp luật Việt Nam. Mọi hành vi xâm phạm nguyên tắc này đều bị nghiêm cấm và xử lý theo quy định.

Căn cứ khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Giải thích từ ngữ
...
6. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

Đối chiếu với điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
...
2. Cấm các hành vi sau đây:
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

Như vậy, hành vi kết hôn khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân trước đó sẽ bị xác định là kết hôn trái pháp luật và không được công nhận.

Không chỉ dừng lại ở việc đăng ký kết hôn, pháp luật còn nghiêm cấm cả hành vi của người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Đây là tình trạng khá phổ biến trong thực tế nhằm né tránh trách nhiệm pháp lý.

Bên cạnh đó,khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
...
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời để ngăn chặn xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình.

Điều này cho thấy, pháp luật không chỉ dừng ở việc cấm mà còn tạo cơ chế để cá nhân, tổ chức chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

3. Xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

Việc xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện chủ yếu thông qua chế tài hành chính, nhằm răn đe và phòng ngừa các hành vi xâm phạm đến quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mức xử phạt đối với hành vi nêu trên được quy định như sau:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định:

Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

Như vậy, mức xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng nêu trên dao động từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Có thể thấy, so với quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, mức xử phạt hiện hành đã được nâng lên, từ mức 3.000.000 đồng - 5.000.000 đồng lên mức 5.000.000 đồng - 10.000.000 đồng.

Điều này cho thấy xu hướng tăng cường tính răn đe và siết chặt xử lý đối với các hành vi xâm phạm quan hệ hôn nhân hợp pháp.

4. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng

Việc xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng không chỉ dừng lại ở chế tài hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp nghiêm trọng theo quy định của pháp luật.

Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, cá nhân thực hiện hành vi có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự nhằm đảm bảo tính răn đe và bảo vệ quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:

Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Theo đó, pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng đạt đến mức độ nguy hiểm nhất định.

Cụ thể, theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), chỉ khi thuộc các trường hợp như: làm cho quan hệ hôn nhân dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn tái phạm thì mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều này thể hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm pháp lý, tránh hình sự hóa các quan hệ xã hội ở mức độ nhẹ.

Khác với xử phạt hành chính, trách nhiệm hình sự đòi hỏi phải có thêm dấu hiệu hậu quả hoặc tính chất nghiêm trọng.

Việc bổ sung chế tài hình sự cho thấy Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc xử phạt mang tính cảnh cáo mà còn có cơ chế xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ hôn nhân.

Qua đó, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và con cái, đồng thời giữ gìn trật tự, đạo đức xã hội.

5. Kết luận

Có thể thấy, các chế tài xử phạt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng không chỉ đơn thuần là những con số xử phạt hành chính hay các khung hình phạt tù nghiêm khắc, mà sâu xa hơn, đó là lá chắn pháp lý vững chắc bảo vệ giá trị cốt lõi của quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, việc thấu hiểu và thượng tôn các quy định pháp luật này không chỉ giúp mỗi cá nhân chủ động phòng tránh những rủi ro pháp lý đáng tiếc, mà còn là nền tảng để xây dựng một chế độ hôn nhân lành mạnh, bền vững và văn minh.

Luật sư Trần Viết Hà

Bài viết được tư vấn bởi

Luật sư Trần Viết Hà

Công ty Luật TNHH MTV Hà và Cộng sự

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Vi phạm hành chính Xem thêm

Pháp luật
Không trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động thì bị phạt bao nhiêu tiền? Biện pháp khắc phục hậu quả là gì?

Trợ cấp thôi việc là một trong những chính sách mà người sử dụng lao động phải thực hiện trong một số trường hợp nhất định đối với người lao động. Nếu không trả trợ cấp thôi việc trong trường hợp này thì người sử dụng la động sẽ bị xử phạt.

Pháp luật
Doanh nghiệp Không công bố thỏa ước lao động tập thể đã được ký kết cho người lao động biết bị phạt bao nhiêu tiền theo Nghị định 283 từ 10/09/2026?

Mức phạt tiền đối với Doanh nghiệp Không công bố thỏa ước lao động tập thể đã được ký kết cho người lao động biết được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 22 Nghị định 283/2026/NĐ-CP; khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Pháp luật
Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn cơ chế chính sách đặc thù giải quyết vi phạm pháp luật đất đai có nội dung nào?

Nội dung hướng dẫn áp dụng một số quy định về cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nêu rõ tại hành Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP như sau:

Pháp luật
Nguyên tắc xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi từ 1/8/2026 ra sao?

Bài viết cung cấp quy định về nguyên tắc, việc lập hồ sơ và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc, theo Luật Phòng, chống ma túy 2025 và Pháp lệnh 03/2026/UBTVQH16.

Bài viết mới nhất