Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong vụ việc dân sự thì có phải chịu trách nhiệm không?

Trần Thị Tuyết Vân 9,600 lượt xem
14:58 | 18/11/2023
Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong vụ việc dân sự thì có phải chịu trách nhiệm không? Cụ thể tôi thấy trong một số trường hợp pháp luật vẫn cho phép Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Vậy cho tôi hỏi nếu trong trường hợp Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì có phải chịu trách nhiệm không?
Nội dung chính
  1. Tòa án có thể tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không?
  2. Khi nào Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?
  3. Những trường hợp nào Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?
  4. Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong vụ việc dân sự thì có phải chịu trách nhiệm không?

Tòa án có thể tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không?

Căn cứ khoản 3 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:

“Điều 111. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này.”

Theo đó, Tòa án vẫn có thể tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng chỉ trong một số trường hợp được pháp luật quy định.

Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Hình từ Internet)

Khi nào Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?

Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP hướng dẫn khoản 3 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về điều kiện để Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:

"Điều 5. Về việc Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 3 Điều 111 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
1. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó liên quan đến vụ án đang giải quyết;
b) Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là thực sự cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách và thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 114 và các điều từ Điều 115 đến Điều 119 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
c) Đương sự không làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì có lý do chính đáng hoặc trở ngại khách quan."

Những trường hợp nào Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?

Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, được sửa đổi bởi Điều 55 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 (Có hiệu lực kể từ 01/07/2023) như sau:

Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 14 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Theo quy định trên, Tóa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong những trường hợp sau:

+ Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

+ Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

+ Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

+ Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

+ Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

+ Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

Trước đây, vấn đề này được tư vấn như sau:

Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:

Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Căn cứ khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về các trường hợp khẩn cấp tạm thời như sau:

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm.

4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

...

Theo đó, Tòa án tự mình quyết định áp dụng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp trên.

Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong vụ việc dân sự thì có phải chịu trách nhiệm không?

Căn cứ khoản 2 khoản 3 Điều 113 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

“Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu;
c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.
3. Việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.”

Như vậy, khi Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án pahỉ chịu trách nhiệm bồi thường.

Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thị Tuyết Vân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thủ tục Tố tụng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư liên tịch 11/2026/TTLT ngày 24/8/2026 về thủ tục thi hành án dân sự, miễn giảm nghĩa vụ thi hành án có nội dung nào?

Nội dung quy định về thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự được Bộ Tư pháp phối hợp cùng 02 cơ quan nêu rõ tại Thông tư liên tịch 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC cụ thể như sau:

Bài viết mới nhất