Nếu phát hiện hồ sơ chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?

Phạm Thị Xuân Hương 361 lượt xem
11:21 | 15/04/2026
Ngoài văn bản đề nghị phê chuẩn lệnh bắt người thì hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp còn cần những gì? Lệnh bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng có gì đặc biệt? Trong trường hợp nếu phát hiện hồ sơ chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì? - Câu hỏi của Thanh Thảo (Đồng Nai)
Nội dung chính
  1. Ngoài văn bản đề nghị phê chuẩn lệnh bắt người thì hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp còn cần những gì?
  2. Trường hợp nào được ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp?
  3. Lệnh bắt giữ người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng có gì đặc biệt?
  4. Nếu phát hiện hồ sơ chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?

Ngoài văn bản đề nghị phê chuẩn lệnh bắt người thì hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp còn cần những gì?

Ngoài văn bản đề nghị phê chuẩn lệnh bắt người thì hồ sơ Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp còn có các giấy tờ, đồ vật quy định tại khoản 5 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

(1) Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ;

(2) Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp;

(3) Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

(4) Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Trường hợp nào được ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp?

Theo khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp bao gồm:

(1) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

(2) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

(3) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Lệnh bắt giữ người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng có gì đặc biệt?

Lệnh bắt giữ người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng có gì đặc biệt?

Lệnh bắt giữ người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng có gì đặc biệt? (Hình từ Internet)

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP như sau:

Áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1. Khi đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cụ thể là:
a) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu chứng minh rõ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

Tại khoản 1 Điều 15 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định như sau:

Áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1. Khi đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cụ thể như sau:
a) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu chứng minh rõ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có biên bản ghi lời khai của người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và các tài liệu hoặc căn cứ xác định người đó bỏ trốn nếu không bị giữ;
c) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu xác định có dấu vết, tài liệu, đồ vật của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm đó; tài liệu, căn cứ xác định người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Như vậy, lệnh bắt giữ người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng thì ngoài các giấy tờ quy định trong hồ sơ yêu cầu bắt, giữ người khẩn cấp thì hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu chứng minh rõ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng.

Nếu phát hiện hồ sơ chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 15 Quyết định 111/QĐ-VKSTC năm 2020 quy định như sau:

Xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên phải tiến hành các hoạt động sau đây:
b) Xác định thẩm quyền, căn cứ của việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ, thấy có dấu hiệu lạm dụng việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc người bị giữ không nhận tội, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị giữ là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo, là nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi người bị giữ trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc phê chuẩn. Khi cần hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên thông báo trước cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để phối hợp trong quá trình hỏi. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ do Kiểm sát viên lập phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự và theo Mẫu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành, được đưa vào hồ sơ vụ án, vụ việc, lưu hồ sơ kiểm sát.

Tại khoản 1 Điều 15 Quyết định 06/QĐ-VKSTC năm 2026 quy định như sau:

Xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên tiến hành các hoạt động sau đây:
a) Kiểm tra hồ sơ, bảo đảm đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo khoản 5 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự; trường hợp không đủ tài liệu, chứng cứ thì yêu cầu cơ quan đề nghị phê chuẩn lệnh bắt bổ sung tài liệu, chứng cứ;
b) Xác định thẩm quyền, căn cứ của việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 136 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Trường hợp thấy có dấu hiệu vi phạm trong việc giữ người, bắt người hoặc người bị giữ, người bị bắt không nhận tội, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị giữ, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Kiểm sát viên trực tiếp hỏi người bị giữ, người bị bắt trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc phê chuẩn. Khi cần hỏi người bị giữ, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để phối hợp trong quá trình hỏi. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ, người bị bắt do Kiểm sát viên lập theo đúng quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự được đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án và lưu hồ sơ kiểm sát.

Chiếu theo quy định này, khi phát hiện hồ sơ chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì Kiểm sát viên có trách nhiệm:

- Trực tiếp hỏi người bị giữ khẩn cấp liên quan đến việc bắt giữ;

- Báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc phê chuẩn lệnh bắt người.

Nếu cần hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên thông báo trước cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để phối hợp trong quá trình hỏi.

Biên bản ghi lời khai của người bị giữ do Kiểm sát viên lập phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và theo Mẫu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành, được đưa vào hồ sơ vụ án, vụ việc, lưu hồ sơ kiểm sát.

Logo Thư viện Pháp luật
Phạm Thị Xuân Hương Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào áp dụng tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn? Phạm tội vì động cơ đê hèn có phải là tình tiết tăng nặng không?

Bộ luật Hình sự 2015 quy định tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn là một trong những nội dung cần xem xét khi quyết định bản án đối với người phạm tội. Vì đây có thể là tình tiết định khung hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Pháp luật
Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC trình tự, thủ tục tố tụng theo Nghị quyết 29 về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ra sao?

Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC Quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội như sau:

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Phân cấp công trình đối với công trình hồ chứa quặng đuôi như thế nào? Về năng lực của cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì như nào?

Công ty có phát sinh thực hiện thi công hồ chứa thải quặng đuôi, gồm phần đập và lòng hồ, công ty áp dụng tiêu chí của công trình thủy lợi để xác định cấp công trình của hồ chứa quặng đuôi được hay không? Người chủ trì, chủ nhiệm thiết kế có bắt buộc phải có chuyên môn về thủy lợi hay không?