- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lạm dụng chức vụ, quyền hạn đối với tội nhận hối lộ theo BLHS 2015?
- Phân biệt lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lạm dụng chức vụ, quyền hạn theo BLHS 2015?
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội chỉ được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lạm dụng chức vụ, quyền hạn đối với tội nhận hối lộ theo BLHS 2015?
Căn cứ Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 về tội nhận hối lộ thì tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn là dấu hiệu định tội của tội nhận hối lộ, còn lạm dụng chức vụ, quyền hạn là định khung hình phạt của tội này.
Cụ thể, Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi điểm r khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, khoản 23 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 có quy định về tội nhận hối lộ như sau:
Tội nhận hối lộ
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (dấu hiệu định tội đối với tội nhận hối lộ), thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (khung 1):
+ Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII Các tội phạm về chức vụ, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
+ Lợi ích phi vật chất.
Tuy nhiên nếu phạm tội thuộc trường hợp lạm dụng chức vụ, quyền hạn (dấu hiệu định khung hình phạt) thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (khung 2), mức phạt sẽ nặng hơn so với trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
>> Không áp dụng tử hình đối với tội nhận hối lộ?

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lạm dụng chức vụ, quyền hạn đối với tội nhận hối lộ theo BLHS 2015 là những tình tiết gì? (Hình từ Internet)
Phân biệt lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lạm dụng chức vụ, quyền hạn theo BLHS 2015?
Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành có giải thích về các tình tiết này như sau:
“Lạm dụng chức vụ, quyền hạn” quy định tại khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Hình sự là sử dụng vượt quá quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao hoặc tuy không được giao, không được phân công nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó nhưng vẫn thực hiện.
Ví dụ: Nguyễn Văn A là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. A chỉ được phân công phụ trách lĩnh vực văn hóa - xã hội, không được phân công phụ trách lĩnh vực quản lý đất đai nhưng A vẫn ra quyết định thu hồi đất của Công ty X để giao cho Công ty Y (là Công ty của gia đình A). Trường hợp này hành vi của A đã vượt quá chức trách, nhiệm vụ được giao.
“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” quy định tại khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Hình sự là dựa vào chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái, không làm hoặc làm không đúng quy định của pháp luật.
Ví dụ: Nguyễn Văn A là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đã thực hiện hành vi trái công vụ, trình lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện B ký quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Mặc dù hai tình tiết này được đặt cụ thể trong hai tội khác nhau (Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ) nhưng đối với những tội khác cũng có tình tiết này thì về nguyên tắc những giải thích này của Hội đồng Thẩm phán cũng có giá trị tham khảo và áp dụng khi định tội hoặc định khung hình phạt.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội chỉ được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định:
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
...
2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Như vậy, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội chỉ được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trường hợp đây không phải là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];