- Toàn văn dự thảo Thông tư về xử lý Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án có hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật?
- Các trường hợp loại trừ xử lý trách nhiệm; miễn hoặc giảm nhẹ, tăng nặng mức xử lý trách nhiệm theo dự thảo Thông tư ra sao?
- Mã số ngạch công chức thi hành án dân sự mới nhất ra sao?
Toàn văn dự thảo Thông tư về xử lý Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án có hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật?
Bộ Tư pháp đang xây dựng dự thảo Thông tư Quy định về việc xử lý Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án có hành vi vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.
>>> TẢI VỀ Toàn văn dự thảo Thông tư

Theo đó, tại Điều 2 dự thảo Thông tư quy định về nguyên tắc xử lý trách nhiệm như sau:
(1) Bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, kịp thời; đúng thẩm quyền, theo quy định của pháp luật.
(2) Người có hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng hình thức xử lý tương ứng với hành vi vi phạm đó. Trường hợp trong cùng một thời điểm xem xét, có nhiều hành vi vi phạm thì xem xét, xử lý đối với từng hành vi và quyết định chung bằng một hình thức cao nhất tương ứng với hành vi thực hiện.
(3) Mọi hành vi phải được xem xét, căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; thái độ tiếp thu và sửa chữa; việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả.
(4) Nếu thuộc trường hợp phải xử lý kỷ luật hoặc hình thức khác thì không áp dụng hình thức xử lý trách nhiệm quy định tại dự thảoThông tư.
(5) Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác của công chức thi hành án dân sự trong quá trình xử lý trách nhiệm.
(6) Những người bị xử lý trách nhiệm không đúng quy định sẽ được kịp thời khôi phục lại nhiệm vụ, quyền hạn và được xem như chưa bị xử lý trách nhiệm.
(7) Tiêu chuẩn về chức trách, nhiệm vụ; quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ trong khi thực hiện nhiệm vụ của Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án được quy định tại pháp luật về công chức, pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự; quy trình, quy chế nội bộ và các văn bản chỉ đạo của cấp trên là căn cứ, cơ sở để thực hiện việc xem xét, xử lý trách nhiệm.
Trên đây là nội dung "Toàn văn dự thảo Thông tư về xử lý Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án có hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật?"

Toàn văn dự thảo Thông tư về xử lý Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án có hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật? (Hình từ Internet)
Các trường hợp loại trừ xử lý trách nhiệm; miễn hoặc giảm nhẹ, tăng nặng mức xử lý trách nhiệm theo dự thảo Thông tư ra sao?
Căn cứ Điều 6 dự thảo Thông tư, quy định về các trường hợp loại trừ xử lý trách nhiệm; miễn hoặc giảm nhẹ, tăng nặng mức xử lý trách nhiệm như sau:
Người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm đối với các hành vi, quyết định của mình trong hoạt động thi hành án theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và các quy định của Đảng, pháp luật khác có liên quan, cụ thể:
(1) Khi có căn cứ cho rằng nghị quyết, quyết định, kết luận, mệnh lệnh của tập thể, người có thẩm quyền trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc không đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định, thì người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án có quyền từ chối thực hiện, được kiến nghị bảo lưu ý kiến bằng văn bản và đề xuất báo cáo xin ý kiến cấp trên.
Trường hợp tập thể, người có thẩm quyền vẫn yêu cầu thực hiện thì người thi hành công vụ phải chấp hành, nhưng không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành. Trong trường hợp này, tập thể, người có thẩm quyền ra các quyết định, mệnh lệnh trái quy định phải chịu trách nhiệm và bị xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định.
(2)Trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau thì được miễn xử lý trách nhiệm:
- Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi dân sự khi có hành vi vi phạm;
- Phải chấp hành quyết định của cấp trên theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2025;
- Được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm trong tình thế cấp thiết, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp khi thi hành công vụ;
- Đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng có gây ra thiệt hại vì lý do khách quan;
- Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng có thiệt hại xảy ra.
- Có hành vi vi phạm đến mức bị xử lý trách nhiệm nhưng đã qua đời.
- Được xem xét loại trừ trách nhiệm trong trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc thực hiện nhiệm vụ trong tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ hoặc gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội.
(3) Trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau thì được giảm nhẹ mức xử lý trách nhiệm:
- Chủ động báo cáo vi phạm, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân về khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức xử lý trách nhiệm tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát;
- Chủ động cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm;
- Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác khắc phục hậu quả do mình gây ra.
- Đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục, quy trình tố tụng, thi hành án và vi phạm không phải do lỗi cố ý, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.
- Chủ động phát hiện và đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý, khắc phục hậu quả hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý, khắc phục hậu quả của vi phạm.
- Trường hợp thực hiện theo mệnh lệnh, quyết định của cấp trên, người có thẩm quyền mà người thi hành công vụ không biết các mệnh lệnh, quyết định đó trái pháp luật.
- Được xem xét giảm nhẹ hình thức xử lý trách nhiệm trong trường hợp đã chủ động xin thôi giữ chức vụ, chức danh, nghỉ công tác trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý, trừ trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
(4) Trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau thì bị tăng nặng mức xử lý trách nhiệm:
- Đã được cơ quan, tổ chức, đơn vị nhắc nhở, phê bình nhưng không thực hiện, không sửa chữa khuyết điểm, vi phạm. Không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm; hoặc khắc phục hậu quả không đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
- Đối phó, quanh co, cản trở quá trình kiểm tra, giám sát. Bao che cho người vi phạm; đe dọa, trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm;
- Vi phạm có tổ chức, là người chủ mưu; cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm; che giấu, sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ, tạo lập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh thực hiện chính sách an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh để trục lợi. Ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm.
Mã số ngạch công chức thi hành án dân sự mới nhất ra sao?
Căn cứ Điều 3 Thông tư 02/2024/TT-BTP quy định về mã số ngạch công chức thi hành án dân sự như sau:
- Chấp hành viên cao cấp
Mã số: 03.299
- Chấp hành viên trung cấp
Mã số: 03.300
- Chấp hành viên sơ cấp
Mã số: 03.301
- Thẩm tra viên cao cấp thi hành án
Mã số: 03.230
- Thẩm tra viên chính thi hành án
Mã số: 03.231
- Thẩm tra viên thi hành án
Mã số: 03.232
- Thư ký thi hành án
Mã số: 03.302
- Thư ký trung cấp thi hành án
Mã số: 03.303
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];