Toàn văn Công văn 851/VKSTC-V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cụ thể thế nào?

Nguyễn Hương Nhi 33,195 lượt xem
09:43 | 02/03/2026
Toàn văn Công văn 851/VKSTC-V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cụ thể thế nào?
Nội dung chính
  1. Toàn văn Công văn 851/VKSTC-V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cụ thể thế nào?
  2. Tội đánh bạc bị phạt bao nhiêu năm tù 2026 theo Bộ luật Hình sự?
  3. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị truy cứu hình sự thế nào?

Toàn văn Công văn 851/VKSTC-V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cụ thể thế nào?

Ngày 23/2/2026, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Công văn 851/VKSTC-V2 năm 2026 về việc giải đáp, hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc.

TẢI VỀ Toàn văn Công văn 851/VKSTC-V2 năm 2026

Theo đó, thực hiện Kết luận chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Quang Dũng - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hội nghị: "Tăng cường trách nhiệm công tổ, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc và Gá bạc đáp ứng yêu cầu đầu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới" tổ chức ngày 20/01/2026. Sau khi trao đổi thống nhất với Vụ 14, Vụ 2 hướng dẫn giải quyết tạm thời một số khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc như sau:

Câu hỏi 1: Về truy cứu trách nhiệm hình sự của thư ký ghi số đề vỉa chuyển một phần cho chủ đề vừa giữ lại để ăn thua trực tiếp đối với các con bạc thì bị xử lý về tội gì?

Trả lời: Hành vì thư ký để giữ lại một phần lô, đề để ăn thua trực tiếp đối với các con bạc thì xử lý về tội Đánh bạc theo Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi thư ký chuyển một phần lô, để cho chủ đề thì xử lý về tội Tổ chức đánh bạc hoặc tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 hoặc Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 với vai trò đồng phạm.

Câu hỏi 2: Về hành vi bán số đề của một người mà trực tiếp người này ăn thua với người chơi đề, trong đó có ngây thu được số tiền bán đề trên 20 triệu đồng, có ngày dưới 20 triệu đồng. Vậy xử lý người này về một tội Tổ chức đánh bạc hay cả hai tội Đánh bạc và tội Tổ chức đánh bạc?

Trả lời: Mặc dù số tiền trên 20 triệu đồng đủ định lượng được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, nhưng về bản chất người này ghi đề để trực tiếp ăn thua với các người chơi đề, do đó xử lý về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Câu hỏi 3: Đối tượng đăng nhập vào tài khoản của mình trên trang Website để cá độ bóng đá, chơi bài, đặt cược nhiều lần mà mỗi lần đặt cược đều dưới 5 triệu đồng, nhưng tổng số tiền các lần đặt cược trên 5 triệu đồng thì có cấu thành tội Đánh bạc không?

Trả lời: Một lần đánh bạc trực tuyến trên trang Website để cá độ bóng đá, chơi bài... được tính kể từ khi đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản ra khỏi trang Web hoặc phần mềm đó. Số tiền đánh bạc là tổng số tiền đã sử dụng đặt cược các lần trong lần đăng nhập đó.

Câu hỏi 4: Số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những người tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà mà có người ghi "biện gà" khi đang diễn ra mà chưa kết thúc?

Trả lời: Việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc thông thông qua đá gà có người ghi "biện gà" đang diễn ra chưa kết thúc mà bị bắt, thì số tiền những người đá gà phải chịu trách nhiệm là số tiền mà "biện gà" đã ghi cho người đó.

Câu hỏi 5: Chủ sới gà tổ chức nhiều trận đã gả cá cược ăn tiền, nhưng mỗi trận đều dưới 5 triệu đồng. Xác định số tiền tổ chức đánh bạc như thế nào?

Trả lời: Chủ sới gà tổ chức nhiều trận đá gà, nếu tổ chức các trận có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian hoặc đồng thời tổ chức trong một giải đấu có kế hoạch rõ ràng... thi phải cộng tổng số tiền cá cược của các trận đá gà, nếu tổng số tiền cá cược trên 5 triệu thì xử lý về tội đánh bạc; nếu trên 20 triệu đồng hoặc trên 10 người tham gia cá cược thì xử lý về tội Tổ chức đánh bạc.

Trường hợp các trận không có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian thì phải xem xét xử lý trách nhiệm theo từng trận, nếu không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự từng trận thì không xử lý hình sự.

... Xem chi tiết tại Công văn 851/VKSTC-V2 năm 2026

*Trên đây là "Toàn văn Công văn 851 VKSTC V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cụ thể thế nào?"

Toàn văn  Công văn 851/VKSTC-V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc

Toàn văn Công văn 851 VKSTC V2 2026 hướng dẫn giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cụ thể thế nào? (Hình từ Internet)

Tội đánh bạc bị phạt bao nhiêu năm tù 2026 theo Bộ luật Hình sự?

Căn cứ theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 120 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định như sau:

Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo đó, căn cứ theo quy định nêu trên thì hành vi đánh bạc trái phép theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 nêu trên tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến đến 07 năm, cụ thể như sau:

- Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

+ Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Tái phạm nguy hiểm.

Bên cạnh đó, căn cứ khoản 2 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về mức phạt đối với hành vi đánh bạc trái phép như sau:

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị truy cứu hình sự thế nào?

Căn cứ tại Điều 322 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 121 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị truy cứu hình sự như sau:

(1) Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

- Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

- Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

- Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

- Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

- Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;

- Tái phạm nguy hiểm.

Nguyễn Hương Nhi
Nguyễn Hương Nhi Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa đi cai nghiện bắt buộc khi nào? Thời hiệu áp dụng biện pháp ra sao?

Bài viết cung cấp quy định về trường hợp, thời hiệu và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc, theo Luật Phòng chống ma túy 2025 và Pháp lệnh 03/2026/UBTVQH16.

Pháp luật
Quá cảnh người bị dẫn độ hiện nay quy định như thế nào? Chi tiết quy định về quá cảnh người bị dẫn độ tại NĐ 167 ra sao?

Bài viết cung cấp quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục quá cảnh người bị dẫn độ qua lãnh thổ Việt Nam, trách nhiệm quản lý, xử lý trường hợp hạ cánh đột xuất và thủ tục Việt Nam đề nghị nước ngoài cho phép quá cảnh, theo Luật Dẫn độ 2025 và Nghị định 167/2026/NĐ-CP.

Pháp luật
Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ thực hiện khi đáp ứng điều kiện gì? Thủ tục quyết định áp dụng nguyên tắc ra sao?

Bài viết cung cấp quy định về điều kiện áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ và trình tự, thủ tục quyết định áp dụng nguyên tắc này khi Việt Nam là nước được yêu cầu hoặc nước yêu cầu dẫn độ, theo Luật Dẫn độ 2025 và Nghị định 167/2026/NĐ-CP.

Bài viết mới nhất