Toàn văn Công văn 494/ATTP-PCTT về việc triển khai công tác hậu kiểm an toàn thực phẩm năm 2026?
Ngày 30/3/2026, Cục An toàn thực phẩm đã có Công văn 494/ATTP-PCTTR năm 2026 về việc triển khai công tác hậu kiểm về an toàn thực phẩm năm 2026
>>> TẢI VỀ Toàn văn Công văn 494/ATTP-PCTT năm 2026

Theo đó, thực hiện Kế hoạch 331/KH-BCĐTƯATTP năm 2026 của Ban chỉ đạo liên ngành trung ương về an toàn thực phẩm về triển khai công tác hậu kiểm về an toàn thực phẩm năm 2026, căn cứ trách nhiệm hậu kiểm về an toàn thực phẩm quy định tại Điều 38 Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, để thực hiện có hiệu quả công tác hậu kiểm đối với các sản phẩm, nhóm sản phẩm thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế và các cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống.
Cục An toàn thực phẩm đề nghị các đơn vị phối hợp thực hiện các nội dung sau:
(1) Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố ban hành kế hoạch và chỉ đạo tăng cường công tác hậu kiểm về an toàn thực phẩm trên địa bàn (đối với các tỉnh/thành phố chưa ban hành Kế hoạch hậu kiểm). Tập trung triển khai các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm các dịp cao điểm.
Tăng cường lực lượng và nguồn lực để kiểm soát giảm thiểu số vụ, số người mắc và tử vong do ngộ độc thực phẩm.
(2) Triển khai hoạt động hậu kiểm có trọng tâm, trọng điểm, tập trung hậu kiểm nhóm sản phẩm/sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm (thực phẩm bổ sung vi chất, vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, enzym, probiotic, prebiotic và chất có hoạt tính sinh học), đăng ký bản công bố sản phẩm (thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi), sản phẩm nhập khẩu thuộc diện miễn kiểm tra hoặc kiểm tra giảm.
Đối với nhóm sản phẩm/sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm, yêu cầu tập trung hậu kiểm hồ sơ tự công bố sản phẩm tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về tự công bố sản phẩm (không tự công bố sản phẩm, vi phạm về phiếu kiểm nghiệm để tự công bố, tự công bố sản phẩm thuộc diện phải đăng ký bản công bố, vi phạm về các chỉ tiêu an toàn thực phẩm v.v…).
Kiểm tra về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm (tập trung đối với nhóm có nguy cơ cao gây ngộ độc thực phẩm:
Bếp ăn tập thể, bếp ăn trường học), cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khoẻ (GMP), cơ sở thuộc diện được miễn cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; lấy mẫu kiểm nghiệm v.v......
Xử lý nghiêm cơ sở vi phạm theo quy định của Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; Nghị định 124 /2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm và Nghị định 117/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, và các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính liên quan.
(3) Đối với nhóm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, tập trung hậu kiểm đối với các doanh nghiệp nằm trên địa bàn đã đăng ký bản công bố sản phẩm.Kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu an toàn, ưu tiên lấy mẫu kiểm nghiệm các sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe có nguy cơ sử dụng chất cấm quy định tại Thông tư 10/2021/TT-BYT quy định Danh mục chất cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ sức khỏe (nhóm sản phẩm hỗ trợ: cải thiện tình trạng huyết áp, hỗ trợ cải thiện chỉ số đường huyết, cải thiện tình trạng đau xương khớp, cải thiện tình trạng mỡ máu, cải thiện tình trạng sinh lý nam, giảm nguy cơ béo phì v.v).
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 17/CT-TTg năm 2017 về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo, phối hợp với Sở: Văn hóa, thể thao và du lịch, Công an, Công Thương đẩy mạnh xử lý vi phạm về quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là xử lý vi phạm quảng cáo trên môi trường mạng, mạng xã hội, youtube v.v…công khai cơ sở và sản phẩm vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.
(4) Thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành trong kiểm soát thực phẩm giả, đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và xâm phạm sở hữu trí tuệ đối với thực phẩm chức năng (gồm thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, thực phẩm bổ sung và thực phẩm dĩnh dưỡng y học…) theo Chỉ thị 17/CT-TTg năm 2017 về tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng thuộc nhóm hàng dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền;
Chỉ thị 13/CT- TTg năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới.
(5) Tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị 17/CT-TTg năm 2020 về tiếp tục tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Nghị quyết 36/NQ-CP năm 2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2 năm 2026 (tại mục 9 phụ lục được ban hành kèm Nghị Quyết) tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm phân công, phân cấp cho các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân xã, phường tăng cường công tác hậu kiểm về an toàn thực phẩm trên địa bàn;
Kiểm tra chuyên ngành theo quy định tại Nghị định 217/2025/NĐ-CP về hoạt động kiểm tra chuyên ngành.
Cục An toàn thực phẩm đề nghị Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, Sở An toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện và chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện các nội dung nêu trên

Toàn văn Công văn 494/ATTP-PCTT về việc triển khai công tác hậu kiểm an toàn thực phẩm năm 2026? (Hình từ Internet)
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm ra sao?
Căn cứ Điều 8 Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm như sau:
(1) Tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm có các quyền sau đây:
- Quyết định các biện pháp kiểm soát nội bộ để duy trì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thực phẩm hợp tác trong việc thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;
- Lựa chọn cơ sở kiểm nghiệm để kiểm tra an toàn thực phẩm; lựa chọn cơ sở kiểm nghiệm đã được chỉ định để chứng nhận hợp quy đối với thực phẩm nhập khẩu;
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;
- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
(2) Tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm có các nghĩa vụ sau đây:
- Tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm trong quá trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh;
- Kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ thực phẩm, nhãn thực phẩm và các tài liệu liên quan đến an toàn thực phẩm; lưu giữ hồ sơ về thực phẩm; thực hiện quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định tại Điều 54 Luật An toàn thực phẩm 2010;
- Thông tin trung thực về an toàn thực phẩm; thông báo cho người tiêu dùng điều kiện bảo đảm an toàn khi vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm;
- Kịp thời cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của thực phẩm và cách phòng ngừa cho người tiêu dùng khi nhận được thông tin cảnh báo của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu;
- Kịp thời ngừng kinh doanh, thông tin cho tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và người tiêu dùng khi phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn;
- Báo cáo ngay với cơ quan có thẩm quyền và khắc phục ngay hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm hoặc bệnh truyền qua thực phẩm do mình kinh doanh gây ra;
- Hợp tác với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra ngộ độc thực phẩm để khắc phục hậu quả, thu hồi hoặc xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;
- Tuân thủ quy định của pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Chi trả chi phí lấy mẫu và kiểm nghiệm theo quy định tại Điều 48 của Luật An toàn thực phẩm 2010;
- Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra.
Những hành vi nào bị cấm trong an toàn thực phẩm theo quy định mới nhất?
Căn cứ theo Điều 5 Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định những hành vi bị cấm trong an toàn thực phẩm như sau:
- Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm.
- Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh:
+ Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;
+ Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;
+ Thực phẩm bị biến chất;
+ Thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép;
+ Thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm;
+ Thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu;
+ Thực phẩm không được phép sản xuất, kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh;
+ Thực phẩm chưa được đăng ký bản công bố hợp quy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thực phẩm đó thuộc diện phải được đăng ký bản công bố hợp quy;
+ Thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng.
- Sử dụng phương tiện gây ô nhiễm thực phẩm, phương tiện đã vận chuyển chất độc hại chưa được tẩy rửa sạch để vận chuyển nguyên liệu thực phẩm, thực phẩm.
- Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả kiểm nghiệm thực phẩm.
- Che dấu, làm sai lệch, xóa bỏ hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc các hành vi cố ý khác cản trở việc phát hiện, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm.
- Người mắc bệnh truyền nhiễm tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
- Quảng cáo thực phẩm sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng.
- Đăng tải, công bố thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm gây bức xúc cho xã hội hoặc thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh
- Sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè, hành lang, sân chung, lối đi chung, diện tích phụ chung để chế biến, sản xuất, kinh doanh thức ăn đường phố.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];