Toàn văn Công văn 3875/BNV-TCBC năm 2026 tiếp tục phân cấp phân quyền cho chính quyền địa phương
Ngày 23/4/2026, Bộ Nội vụ ban hành Công văn 3875/BNV-TCBC năm 2026 về việc tiếp tục đánh giá tính khả thi và hiệu quả của nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương.
TẢI VỀ Toàn văn Công văn 3875/BNV-TCBC năm 2026
Theo đó, thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 109/NQ-CP năm 2026, Nghị quyết 89/NQ-CP năm 2026 và Chỉ thị 08/CT-TTg năm 2026, chuẩn bị nội dung phục vụ sơ kết 01 năm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, Bộ Nội vụ trân trọng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến thực hiện phân cấp, phân quyền được quy định cụ thể tại Công văn 3875/BNV-TCBC năm 2026 như sau:
- Thực hiện Kết luận 192-KL/TW năm 2025; Kết luận 195-KL/TW năm 2025, Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp đã có Công văn 137/CV-BCĐ năm 2025 đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo thực hiện đánh giá tính khả thi đối với các nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền từ Trung ương cho địa phương.
Trên cơ sở tổng hợp phản ánh, kiến nghị của các địa phương và đánh giá từ các Bộ, ngành, Bộ Nội vụ đã có Báo cáo số 11296/BC-BNV ngày 27/11/2025 báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, qua rà soát đối với 949 nhiệm vụ đã được phân cấp, phân quyền tại các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian từ 01/6/2025 đến 31/8/2025, có 584 nhiệm vụ bảo đảm tính khả thi để thực hiện; 355 nhiệm vụ cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn thực hiện; 10 nhiệm vụ cần điều chỉnh thẩm quyền giữa trung ương với địa phương hoặc giữa các cấp của chính quyền địa phương.
Trên cơ sở Báo cáo 11296/BC-BNV của Bộ Nội vụ nêu trên, Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp đã ban hành Công văn 174/CV-BCĐ năm 2025 chỉ đạo các Bộ, ngành tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh nhiệm vụ, thẩm quyền; ban hành văn bản hướng dẫn địa phương đối với các nhiệm vụ, thẩm quyền được đánh giá chưa bảo đảm tính khả thi.
Theo kết quả báo cáo giải quyết kiến nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tính đến ngày 22/4/2026 cơ bản đã hoàn thành việc xử lý đối với 10 nhiệm vụ cần điều chỉnh thẩm quyền giữa trung ương với địa phương hoặc giữa các cấp của chính quyền địa phương và 355 nhiệm vụ cần ban hành văn bản để hướng dẫn thực hiện.
- Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Nội vụ đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Trên cơ sở danh mục 10 nhiệm vụ đã được điều chỉnh thẩm quyền giữa trung ương với địa phương hoặc giữa các cấp của chính quyền địa phương (Phụ lục 1 kèm theo) và 355 nhiệm vụ đã được các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện (Phụ lục 2 kèm theo), đánh giá lại về tính khả thi của các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền, trong đó nêu rõ ý kiến đối với từng nội dung:
+ Đã bảo đảm tính khả thi;
+ Vướng mắc, khó khăn, đề xuất (chỉ nêu những vướng mắc, khó khăn khác so với đánh giá cũ hoặc sau khi nhiệm vụ, thẩm quyền đã được điều chỉnh hoặc các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành văn bản hướng dẫn nhưng chưa xử lý triệt để, phát sinh các vướng mắc, khó khăn mới (nếu có)).
- Ngoài 365 nhiệm vụ phân cấp, phân quyền tại mục 2 nêu trên, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đánh giá lại tính khả thi của các nhiệm vụ đã được phân cấp, phân quyền tại các văn bản quy phạm pháp luật.
Trường hợp các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền đã được đánh giá là khả thi trước đây, nay thực hiện có khó khăn, vướng mắc đề nghị nêu rõ lý do tại sao trước đây đánh giá khả thi nhưng hiện nay lại gặp khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp (Phụ lục 3 kèm theo).
- Thực hiện rà soát và tiếp tục đề xuất các Bộ, cơ quan ngang Bộ phân cấp, phân quyền các nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương (nếu có), để thực hiện phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; tạo quyền chủ động trong việc tổ chức thực hiện và quản lý cho địa phương (Phụ lục 4 kèm theo).
Ý kiến của địa phương gửi về Bộ Nội vụ (đồng thời gửi đến các Bộ, quản lý ngành lĩnh vực có khó khăn, vướng mắc) trước ngày 08/5/2025 để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bộ Nội vụ trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý cơ quan.

Toàn văn Công văn 3875/BNV-TCBC năm 2026 tiếp tục phân cấp phân quyền cho chính quyền địa phương? (Hình ảnh Internet)
Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương
Sau sáp nhập, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương được quy định tại Điều 11 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 cụ thể như sau:
(1) Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước ở địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp.
(2) Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
- Xác định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả;
- Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước ở trung ương cho chính quyền địa phương; phân định rõ giữa thẩm quyền của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã; bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương;
- Phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước cấp trên được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó;
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền; có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều chỉnh nội dung phân quyền, phân cấp khi cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân quyền, phân cấp thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
- Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp 2013 và pháp luật;
- Đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
- Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác.
Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
(3) Việc phân quyền, phân cấp, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, các cơ quan của chính quyền địa phương tại các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, bảo đảm quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả.
Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc giải quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, không để việc giải quyết công việc, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp bị đình trệ, ùn tắc, kém hiệu quả.
Thực hiện chế độ, chính sách đặc thù đối với đơn vị hành chính mới sau sắp xếp
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 76/2025/UBTVQH15 quy định về việc thực hiện chế độ, chính sách đặc thù đối với đơn vị hành chính mới sau sắp xếp như sau:
(1) Người dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang trên địa bàn đơn vị hành chính sau sắp xếp tiếp tục hưởng chế độ, chính sách đặc thù áp dụng theo vùng, theo khu vực hoặc theo đơn vị hành chính như trước khi thực hiện sắp xếp cho đến khi có quyết định khác của cấp có thẩm quyền.
(2) Giữ nguyên phạm vi, đối tượng và nội dung của các chế độ, chính sách theo quy định của trung ương và địa phương áp dụng đối với đơn vị hành chính như trước khi sắp xếp cho đến khi có quyết định khác của cấp có thẩm quyền.
(3) Trường hợp có thay đổi tên gọi của đơn vị hành chính sau sắp xếp thì sử dụng tên gọi mới của đơn vị hành chính để tiếp tục tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đặc thù.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];