- Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ bao nhiêu % theo Chương trình 21-CTr/TU ngày 23/12/2025?
- Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Kết luận 69-KL/TW năm 2024 ra sao?
- Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo Kết luận 69-KL/TW năm 2024 như thế nào?
Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ bao nhiêu % theo Chương trình 21-CTr/TU ngày 23/12/2025?
Ngày 23/12/2025, Tỉnh Tuyên Quang ban hành Chương trình 21-CTr/TU năm 2025 thực hiện Kết luận 69-KL/TW năm 2024 ngày 11/01/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2012, ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
TẢI VỀ Chương trình 21-CTr/TU năm 2025
Theo đó, Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ bao nhiêu % theo Chương trình 21-CTr/TU ngày 23/12/2025 dưới đây:
Căn cứ tiểu mục 2 Mục II Chương trình 21-CTr/TU năm 2025 nêu Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ bao nhiêu % như sau:
II- MỤC TIÊU
...
2. Mục tiêu cụ thể
- Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ chi ngân sách địa phương chỉ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 1,5% và tỷ lệ chi tối thiểu cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt 2-3% trong GRDP (hằng năm).
- Xây dựng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ đủ khả năng tiếp thu, làm chủ, phát triển và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, hiện đại; đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh có trên 600 cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ.
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống; đến năm 2030 có trên 25 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh triển khai mỗi năm; trên 30 công trình khoa học và công nghệ cấp tỉnh, cấp bộ được nghiệm thu mỗi năm.
- Phấn đấu đến năm 2030 xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) đứng thứ 20/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo, đổi mới công nghệ, quy trình, mô hình kinh doanh đạt trên 25%; số lượng sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa mỗi năm đạt trên 50 sản phẩm; số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có hợp tác nghiên cứu, phát triển mỗi năm đạt trên 20%.
- Phát triển chuyển đổi số: Phấn đấu đến 2030 xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) đứng thứ 20/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quy mô kinh tế số trong GRDP đạt 24%; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 40%.
- Đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục phổ thông có giáo viên đạt năng lực số cơ bản, 30% đạt năng lực số nâng cao; 100% dữ liệu học sinh, giáo viên kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục.
- Phấn đấu đến năm 2035, xây dựng trung tâm điều hành thông minh đóng vai trò như “bộ não số” của tỉnh, giúp tổ chức đảng, cơ quan đảng, chính quyền thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành hiệu quả trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - xã hội, an ninh, giao thông, môi trường và dịch vụ công.
Như vậy, Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ 24% theo Chương trình 21-CTr/TU ngày 23/12/2025.
*Trên đây là thông tin về Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ bao nhiêu % theo Chương trình 21-CTr/TU ngày 23/12/2025!

Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu quy mô kinh tế số trong GRDP đạt tỷ lệ bao nhiêu % theo Chương trình 21-CTr/TU ngày 23/12/2025? (Hình ảnh Internet)
Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Kết luận 69-KL/TW năm 2024 ra sao?
Căn cứ Mục 3 Kết luận 69-KL/TW năm 2024 có nêu về nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như sau:
Tiếp tục sắp xếp, đẩy mạnh cơ chế tự chủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập nhằm thu hút, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia, ngành, vùng, nguồn lực trong và ngoài nước. Tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học, nhất là các đại học trọng điểm quốc gia tăng cường hoạt động giảng dạy gắn với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh. Có cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học giỏi, nhân tài. Khuyến khích thu hút, tạo nguồn cán bộ khoa học từ sinh viên xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; hỗ trợ việc phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ, có tiềm năng.
Tập trung phát triển một số tổ chức khoa học và công nghệ đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng chuẩn mực nghề nghiệp trong nghiên cứu khoa học phù hợp thông lệ quốc tế. Phát triển mạnh mẽ các khu công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh, hạ tầng thông tin và thống kê về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng hiện đại, tiếp cận trình độ các nước tiên tiến.
Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo Kết luận 69-KL/TW năm 2024 như thế nào?
Căn cứ Mục 5 Kết luận 69-KL/TW năm 2024 có nêu về thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ như sau:
Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích, hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi; chủ động, kịp thời cập nhật, ứng dụng phát triển các dịch vụ, sản phẩm chủ lực góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia. Có chính sách ưu đãi cho sản phẩm đang trong thời kỳ thử nghiệm, sử dụng công nghệ mới và các hoạt động tư vấn, nhập khẩu, xuất khẩu công nghệ.
Gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác tài sản trí tuệ, nhất là tài nguyên trí tuệ của doanh nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nghiên cứu, phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia hài hoà tiêu chuẩn quốc tế đối với các công nghệ, sản phẩm mới, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm chủ lực đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Khuyến khích phát triển tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, trung tâm xúc tiến và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, trung tâm, sàn giao dịch công nghệ, chợ công nghệ; mạng lưới tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ tìm kiếm, đánh giá, định giá, môi giới, thử nghiệm, chuyển giao kết quả, sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quan tâm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả, sản phẩm này như hàng hoá đặc biệt có giá trị, quyền sở hữu và lưu thông trên thị trường. Tăng cường kết nối các sàn giao dịch công nghệ với các trung tâm ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];