Hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 theo Thông tư 22 và Thông tư 89 ra sao?

16:24 | 23/10/2026
Hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 theo Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT và Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT dưới đây.
Nội dung chính
  1. Hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 theo Thông tư 22 và Thông tư 89 ra sao?
  2. Hình thức đánh giá đối với các môn học của học sinh THCS và THPT gồm những gì?
  3. Yêu cầu đánh giá học sinh THCS và THPT như thế nào?

Hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 theo Thông tư 22 và Thông tư 89 ra sao?

Căn cứ Điều 7 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT được bổ sung bởi Điều 15 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 như sau:

(1) Đánh giá định kì (không thực hiện đối với cụm chuyên đề học tập), gồm đánh giá giữa kì và đánh giá cuối kì, được thực hiện thông qua: bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính), bài thực hành, dự án học tập.

- Thời gian làm bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính) đối với môn học (không bao gồm cụm chuyên đề học tập) có từ 70 tiết/năm học trở xuống là 45 phút, đối với môn học (không bao gồm cụm chuyên đề học tập) có trên 70 tiết/năm học từ 60 phút đến 90 phút; đối với môn chuyên tối đa 120 phút.

- Đối với bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính) đánh giá bằng điểm số, đề kiểm tra được xây dựng dựa trên ma trận, đặc tả của đề kiểm tra, đáp ứng theo yêu cầu cần đạt của môn học được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông.

- Đối với bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính) đánh giá bằng nhận xét, bài thực hành, dự án học tập, phải có hướng dẫn và tiêu chí đánh giá theo yêu cầu cần đạt của môn học được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông trước khi thực hiện.

(2) Trong mỗi học kì, mỗi môn học đánh giá bằng nhận xét có 01 (một) lần đánh giá giữa kì và 01 (một) lần đánh giá cuối kì.

(3) Trong mỗi học kì, mỗi môn học đánh giá bằng nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số có 01 (một) điểm đánh giá giữa kì (sau đây viết tắt là ĐĐGgk) và 01 (một) điểm đánh giá cuối kì (sau đây viết tắt là ĐĐGck).

(4) Những học sinh không tham gia kiểm tra, đánh giá đủ số lần theo quy định tại (2), (3) nếu có lí do bất khả kháng thì được kiểm tra, đánh giá bù với yêu cầu cần đạt tương đương với lần kiểm tra, đánh giá còn thiếu. Việc kiểm tra, đánh giá bù được thực hiện theo từng học kì.

(5) Trường hợp học sinh không tham gia kiểm tra, đánh giá bù theo quy định tại (4) thì được đánh giá mức Chưa đạt hoặc nhận 0 (không) điểm đối với lần kiểm tra, đánh giá còn thiếu.

(6) Tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ bằng hình thức bài kiểm tra trên máy tính

- Nhà trường tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ trên máy tính khi đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm kiểm tra, đánh giá và vận hành theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường thông báo hình thức kiểm tra và yêu cầu kỹ thuật đến học sinh và cha mẹ học sinh trước khi tổ chức thực hiện.

- Bài làm và kết quả kiểm tra trên máy tính được lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử, có giá trị pháp lý tương đương bài làm trên giấy khi đáp ứng yêu cầu về tính toàn vẹn, xác thực, bảo mật, lưu trữ, khả năng truy cập, truy xuất theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

- Nhà trường có phương án dự phòng được chuẩn bị trước và thông báo cho học sinh trước khi tổ chức kiểm tra. Trường hợp sự cố kỹ thuật ảnh hưởng đến kết quả làm bài của học sinh, nhà trường tổ chức kiểm tra lại cho học sinh bị ảnh hưởng hoặc chuyển sang hình thức kiểm tra trên giấy trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc kể từ ngày xảy ra sự cố, bảo đảm đề kiểm tra tương đương về nội dung, mức độ yêu cầu; bảo đảm quyền lợi của học sinh và tính khách quan, trung thực của kết quả kiểm tra.

- Đối với học sinh khuyết tật tham gia bài kiểm tra định kỳ trên máy tính, nhà trường thực hiện điều chỉnh hợp lý phù hợp với đặc điểm, mức độ khuyết tật của học sinh theo quy định tại Điều 11 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT. Trường hợp học sinh khuyết tật không có khả năng tham gia bài kiểm tra trên máy tính kể cả khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều chỉnh, nhà trường tổ chức cho học sinh thực hiện kiểm tra trên giấy hoặc theo hình thức khác phù hợp với tình trạng khuyết tật của học sinh theo quy định tại Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT; kết quả kiểm tra có giá trị pháp lý tương đương.

*LƯU Ý: Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 01/12/2026.

Hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 theo Thông tư 22 và Thông tư 89 ra sao?

Hướng dẫn đánh giá định kì học sinh THCS và THPT từ ngày 01/12/2026 theo Thông tư 22 và Thông tư 89 ra sao? (Hình ảnh Internet)

Hình thức đánh giá đối với các môn học của học sinh THCS và THPT gồm những gì?

Căn cứ khoản 3 Điều 5 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định hình thức đánh giá đối với các môn học của học sinh THCS và THPT gồm:

- Đánh giá bằng nhận xét đối với các môn học: Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Âm nhạc, Mĩ thuật, Nội dung giáo dục của địa phương, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; kết quả học tập theo môn học được đánh giá bằng nhận xét theo 01 (một) trong 02 (hai) mức: Đạt, Chưa đạt.

- Đánh giá bằng nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số đối với các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông, trừ các môn học quy định tại điểm a khoản này; kết quả học tập theo môn học được đánh giá bằng điểm số theo thang điểm 10, nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm 10. Điểm đánh giá là số nguyên hoặc số thập phân được lấy đến chữ số thập phân thứ nhất sau khi làm tròn số.

Yêu cầu đánh giá học sinh THCS và THPT như thế nào?

Căn cứ Điều 4 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định yêu cầu đánh giá học sinh THCS và THPT như sau:

- Đánh giá căn cứ vào yêu cầu cần đạt được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông.

- Đánh giá bảo đảm tính chính xác, toàn diện, công bằng, trung thực và khách quan.

- Đánh giá bằng nhiều phương pháp, hình thức, kĩ thuật và công cụ khác nhau; kết hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì.

- Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong rèn luyện và học tập của học sinh; không so sánh học sinh với nhau.

*LƯU Ý: Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 01/12/2026.

Nguyễn Đỗ Bảo Trung
Nguyễn Đỗ Bảo Trung Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Giáo dục Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Nghị quyết 57-NQ/TW nêu quan điểm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính để phát triển nhanh yếu tố nào?

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.