Hình thức tổ chức thi đua từ ngày 01/10/2026 theo Thông tư 25/2026/TT-BNV được quy định ra sao?
Ngày 1/10/2026, Bộ Nội vụ đã có Thông tư 25/2026/TT-BNV quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng 2022 và Nghị định 368/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng 2022
Hình thức tổ chức thi đua từ ngày 01/10/2026 được quy định tại Điều 3 Thông tư 25/2026/TT-BNV như sau:
- Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc thường xuyên của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau được chia theo khối thi đua, cụm thi đua.
Việc tổ chức phong trào thi đua thường xuyên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể và được triển khai thực hiện tại cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc theo cụm, khối thi đua để phát động phong trào thi đua, ký kết giao ước thi đua. Kết thúc năm công tác, thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị, trưởng các cụm thi đua, khối thi đua tiến hành tổ chức tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua.
- Thi đua theo chuyên đề là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm hoặc một lĩnh vực cần tập trung được xác định hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định. Việc phát động thi đua theo chuyên đề phải xác định rõ thời gian thực hiện, mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp tổ chức thực hiện và tiêu chí đánh giá kết quả; bảo đảm tính thiết thực, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Hình thức tổ chức thi đua từ ngày 01/10/2026 theo Thông tư 25/2026/TT-BNV được quy định ra sao?
Quy định chung về thi đua khen thưởng như thế nào?
Theo Điều 2 Thông tư 25/2026/TT-BNV quy định chung về thi đua khen thưởng như sau:
(1) Đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc đột xuất thì người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh khen thưởng theo thẩm quyền. Trường hợp thành tích tiêu biểu xuất sắc, có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc lĩnh vực thuộc Bộ, ban, ngành, tỉnh quản lý hoặc phạm vi toàn quốc thì Bộ, ban, ngành, tỉnh có trách nhiệm đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước theo tiêu chuẩn quy định.
(2) Khen thưởng khi sơ kết, tổng kết phong trào thi đua do Bộ, ban, ngành, tỉnh phát động.
Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh thực hiện việc khen thưởng theo thẩm quyền. Bộ, ban, ngành, tỉnh không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước cho tập thể, cá nhân không thuộc quyền quản lý (trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 3 Quyết định 45/2026/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng).
Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 03 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích tiêu biểu đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 05 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc tiêu biểu đề nghị Thủ tướng Chính phủ xét trình Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba hoặc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an).
(3) Khi Bộ, ban, ngành, tỉnh tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định hoặc phục vụ hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế, khu vực... thì thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền, không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, trừ thành tích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước theo chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.
(4) Việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” trong một số trường hợp cụ thể được thực hiện như sau:
- Cá nhân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân dẫn đến bị thương tích cần điều trị, điều dưỡng theo kết luận của bệnh viện hoặc Trung tâm y tế khu vực trở lên thì thời gian điều trị, điều dưỡng được tính để bình xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”;
- Cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thì thời gian học tập được tính vào thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị để được bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.
Trường hợp cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng từ 01 năm trở lên thì thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thời gian để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Ngoài các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định chung, trong thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng, cá nhân phải chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ học tập, đạt kết quả học tập từ loại khá trở lên (đối với khóa đào tạo, bồi dưỡng có đánh giá, xếp loại kết quả học tập) hoặc được cơ sở đào tạo cấp chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng (đối với các khóa đào tạo, bồi dưỡng không tổ chức đánh giá, xếp loại);
- Đối với cá nhân chuyển công tác hoặc được điều động, biệt phái đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong một thời gian nhất định thì việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ (đối với cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức) hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị mới (đối với cá nhân không phải là cán bộ, công chức, viên chức) thực hiện. Trường hợp có thời gian công tác ở cơ quan cũ từ 06 tháng trở lên phải có ý kiến nhận xét của cơ quan cũ;
- Không xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” đối với cá nhân mới tuyển dụng dưới 06 tháng.
Hành vi nào bị nghiêm cấm trong thi đua, khen thưởng?
Tại Điều 15 Luật Thi đua, Khen thưởng 2022 quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong thi đua, khen thưởng như sau:
- Tổ chức thi đua, khen thưởng trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng thi đua, khen thưởng để vụ lợi.
- Cản trở, nhũng nhiễu, tiêu cực trong công tác thi đua, khen thưởng.
- Kê khai gian dối, làm giả hồ sơ, xác nhận, đề nghị sai trong thi đua, khen thưởng.
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để đề nghị, quyết định tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng trái pháp luật.
- Sử dụng hiện vật khen thưởng trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, tác động xấu đến xã hội.
- Sử dụng quỹ thi đua, khen thưởng trái quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];