Dự thảo Thông tư sửa đổi Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ra sao?

Nguyễn Văn Phú 272 lượt xem
09:30 | 21/08/2026
Nội dung dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT đang được Bộ GDĐT đang lấy ý kiến xây dựng chi tiết dưới đây:
Nội dung chính
  1. Dự thảo Thông tư sửa đổi Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ra sao?
  2. Sắp xếp mạng lưới trường, lớp, điểm trường phù hợp, ổn định đảm bảo nội dung gì theo Công văn 5385?
  3. Chương trình giáo dục hiện nay được quy định ra sao?

Dự thảo Thông tư sửa đổi Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ra sao?

Bộ GDĐT đang lấy ý kiến xây dựng dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT.

>>> TẢI VỀ Dự thảo Thông tư

Theo đó, tại Điều 1 Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình tổng thể trong Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT dự kiến như sau:

(1) Sửa đổi, bổ sung nội dung “1.1. Cấp Tiểu học”, mục “1. Giai đoạn giáo dục cơ bản” phần “IV. KẾ HOẠCH GIÁO DỤC” như sau:

“1. Giai đoạn giáo dục cơ bản

1.1. Cấp tiểu học

a) Nội dung giáo dục

Các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (nếu chọn Tiếng Anh: ở lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5; nếu chọn ngoại ngữ khác ngoài Tiếng Anh: ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và Xã hội (ở lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lí (ở lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật); Hoạt động trải nghiệm.

Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 1 (nếu chọn ngoại ngữ khác ngoài Tiếng Anh: ở lớp 1, lớp 2).”

b) Thời lượng giáo dục

Thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học; mỗi tiết học 35 phút. Cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kế hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục cấp tiểu học

(đối với các lớp chọn môn Ngoại ngữ 1 là Tiếng Anh)

Bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục cấp tiểu học

(đối với các lớp chọn môn Ngoại ngữ 1 là ngoại ngữ khác ngoài Tiếng Anh)

(2) Sửa đổi, bổ sung nội dung “1.2. Môn Ngoại ngữ”, mục “1. Giáo dục ngôn ngữ và văn học” phần “V. ĐỊNH HƯỚNG VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC” như sau:

“1.2. Môn Ngoại ngữ

Môn Ngoại ngữ (gồm các ngoại ngữ có chương trình đã được phê duyệt) giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực ngôn ngữ (ngoại ngữ) để sử dụng một cách tự tin, hiệu quả, phục vụ cho học tập và giao tiếp, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

Môn Ngoại ngữ phát triển toàn diện 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Nội dung giáo dục ngoại ngữ được xây dựng liền mạch từ giai đoạn giáo dục cơ bản đến giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp trên cơ sở tham chiếu các khung trình độ ngoại ngữ quốc tế và Việt Nam.

Học sinh phổ thông bắt buộc phải học một ngoại ngữ (gọi là Ngoại ngữ 1). Học sinh có thể làm quen với ngoại ngữ khác ở cấp tiểu học. Từ lớp 6, học sinh phổ thông được tự chọn thêm ngoại ngữ khác (gọi là Ngoại ngữ 2) theo nguyện vọng và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục.

Cơ sở giáo dục lựa chọn (các) ngoại ngữ (trong đó có tiếng Anh) phù hợp với khả năng đáp ứng để tổ chức dạy học môn Ngoại ngữ 1. Các lớp chọn Tiếng Anh là Ngoại ngữ 1 triển khai dạy học bắt buộc từ lớp 1. Các lớp chọn ngoại ngữ khác ngoài Tiếng Anh là Ngoại ngữ 1 triển khai dạy học bắt buộc từ lớp 3; đối với các lớp này, tổ chức dạy học tự chọn đối với ngoại ngữ đã chọn ở lớp 1 và lớp 2 nếu học sinh có nhu cầu và cơ sở giáo dục có khả năng đáp ứng.

Môn Ngoại ngữ 2 là môn học tự chọn, có thể tổ chức dạy học bắt đầu từ lớp 6 và kết thúc ở bất kì lớp nào tuỳ theo nhu cầu của học sinh và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục.

Dự thảo Thông tư sửa đổi Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ra sao?

Dự thảo Thông tư sửa đổi Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ra sao?

Sắp xếp mạng lưới trường, lớp, điểm trường phù hợp, ổn định đảm bảo nội dung gì theo Công văn 5385?

Tại tiểu mục 4 Mục IV Phần B Công văn 5385/BGDĐT-GDMN năm 2026 Mạng lưới trường, lớp GDMN về sắp xếp mạng lưới trường, lớp, điểm trường phù hợp, ổn định đảm bảo nội dung sau:

(1) Rà soát, sắp xếp mạng lưới trường, lớp, phân hiệu, điểm trường mầm non theo quy định, phù hợp với quy hoạch, phân bố dân cư, điều kiện đi lại, yêu cầu phổ cập GDMN và bảo đảm chất lượng theo đúng quy định tại Điều lệ trường mầm non.

(2) Rà soát kỹ việc dồn ghép điểm trường mầm non tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và địa bàn đi lại khó khăn; không sắp xếp cơ học làm giảm cơ hội tiếp cận GDMN, tăng khoảng cách đi học hoặc ảnh hưởng đến an toàn của trẻ em; bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị, vệ sinh, nước sạch, an toàn và hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non.

Chương trình giáo dục hiện nay được quy định ra sao?

Căn cứ theo Điều 8 Luật Giáo dục 2019 có cụm từ bãi bỏ bởi điểm d khoản 31 Điều 1 Luật Giáo dục sửa đổi 2025 quy định về chương trình giáo dục hiện nay như sau:

(1) Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo.

(2) Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để địa phương và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp; đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế. Chương trình giáo dục là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện.

(3) Chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ thông; giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.

(4) Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ hoặc kết hợp giữa tín chỉ và niên chế đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Kết quả học tập môn học hoặc tín chỉ, mô-đun mà người học tích lũy được khi theo học một chương trình giáo dục được công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi cho môn học hoặc tín chỉ, mô-đun tương ứng trong chương trình giáo dục khác khi người học chuyên ngành, nghề đào tạo, chuyển hình thức học tập hoặc học lên cấp học, trình độ đào tạo cao hơn.

(5) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định việc thực hiện chương trình giáo dục và việc công nhận về giá trị chuyển đổi kết quả học tập trong đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp quy định tại Điều 8 Luật Giáo dục 2019.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Phú Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Giáo dục Xem thêm

Pháp luật
Thông báo 519/TB-VPCP ngày 7/10/2026 về tháo gỡ điểm nghẽn lĩnh vực giáo dục và đào tạo có nội dung nào?

Nội dung kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tháo gỡ các điểm nghẽn trong xã hội hóa giáo dục, làm việc, đối thoại với một số doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được nêu rõ tại Thông báo 519/TB-VPCP năm 2026 cụ thể như sau:

Bài viết mới nhất