Danh mục cơ sở nhà đất dôi dư không còn nhu cầu sử dụng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo Công văn 20151 ra sao?
Dưới đây là nội dung "Danh mục cơ sở nhà đất dôi dư không còn nhu cầu sử dụng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo Công văn 20151 ra sao" như sau:
Ngày 25/12/2025, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Công văn 20151/BTC-BHXH năm 2025 về xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
>>> TẢI VỀ Công văn 20151/BTC-BHXH năm 2025
Theo đó, tại Phụ lục ban hành kèm theo Công văn 20151/BTC-BHXH năm 2025 quy định về Danh mục cơ sở nhà đất dôi dư không còn nhu cầu sử dụng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam như sau:
>>> TẢI VỀ

Trên đây là nội dung "Danh mục cơ sở nhà đất dôi dư không còn nhu cầu sử dụng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo Công văn 20151 ra sao?"

Danh mục cơ sở nhà đất dôi dư không còn nhu cầu sử dụng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo Công văn 20151 ra sao? (Hình từ Internet)
Quy định về trách nhiệm sắp xếp lại, xử lý nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính theo Công điện 207 ra sao?
Căn cứ Mục 1 Công điện 207/CĐ-TTg năm 2025, quy định như sau:
Về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất
(1) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý quyết liệt đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại, xử lý đối với nhà, đất thuộc phạm vi sắp xếp lại, xử lý theo quy định của Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý tài sản công là nhà, đất đảm bảo hoàn thành việc sắp xếp theo Nghị quyết 74/2022/QH15 của Quốc hội khóa XV về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
(2) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương khẩn trương tiếp nhận nhà, đất của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật; tránh đùn đẩy, kéo dài thời gian thực hiện, gây lãng phí; tiếp nhận thông tin, xem xét, giải quyết các trường hợp hoàn thiện hồ sơ pháp lý về nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương và trung ương quản lý trên địa bàn.
- Đối với cơ sở nhà, đất thiếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, các cơ quan chức năng của địa phương căn cứ nguồn gốc, hồ sơ pháp lý có liên quan và quy định của pháp luật về đất đai để xem xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật, không chờ đến khi sắp xếp lại, xử lý xong, gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý về nhà, đất.
Nguyên tắc bảo hiểm xã hội là gì?
Căn cứ Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về nguyên tắc bảo hiểm xã hội như sau:
(1) Mức hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội; có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
(2) Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện do người tham gia lựa chọn.
(3) Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
(4) Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
(5) Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
(6) Thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để xác định điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng tính theo năm, một năm phải tính đủ 12 tháng. Trường hợp tính mức hưởng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.
(7) Việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội được xác định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];