Công văn 4788/SNV-VLATLĐ kéo dài thời hạn báo cáo sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2026 đến trước 15/7/2026 tại Hà Nội chi tiết ra sao?
Ngày 30/6/2026, Sở Nội vụ Hà Nội đã có Công văn 4788/SNV-VLATLĐ năm 2026 tiếp tục báo cáo tình hình sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2026 theo Nghị định 45/2020/NĐ-CP.
>>> Tải về Công văn 4788/SNV-VLATLĐ năm 2026
Theo đó, để triển khai báo cáo tình hình sử dụng lao động 06 tháng đầu năm 2026, Sở Nội vụ đã ban hành văn bản 3209/SNV-VLATLĐ ngày 18/5/2026 gửi UBND các xã, phường, Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố Hà Nội; Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động trên địa bàn Thành phố (gọi chung là đơn vị). Tuy nhiên hết ngày 05/6/2026, vẫn còn rất nhiều đơn vị chưa nộp được báo cáo.
Để đảm bảo việc tổng hợp dữ liệu và báo cáo tình hình sử dụng lao động 06 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn Thành phố theo Nghị định 45/2020/NĐCP, Sở Nội vụ đề nghị Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố Hà Nội, các đơn vị tiếp tục báo cáo tình hình sử dụng lao động 06 tháng đầu năm 2026 về Sở Nội vụ theo hình thức trực tuyến bằng 02 cách sau đây:
[1] Truy cập vào Cổng thông tin việc làm Thành phố bằng cách quét mã QR code

[2] Truy cập link https://congvieclam.hanoi.gov.vn/khao-sat/24
Thời hạn báo cáo trực tuyến: Hoàn thành trước ngày 15/7/2026
Sau thời hạn nêu trên, Sở Nội vụ thành phố Hà Nội sẽ đóng hệ thống tiếp nhận, tiến hành tổng hợp danh sách các đơn vị chưa thực hiện báo cáo để làm cơ sở đánh giá việc chấp hành pháp luật lao động khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Đề nghị các đơn vị nghiêm túc thực hiện để tránh bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 12/2022/NĐ-CP
Trên đây là nội dung về "Công văn 4788/SNV-VLATLĐ kéo dài thời hạn báo cáo sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2026 đến trước 15/7/2026 tại Hà Nội chi tiết ra sao?"

Công văn 4788/SNV-VLATLĐ kéo dài thời hạn báo cáo sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2026 đến trước 15/7/2026 tại Hà Nội chi tiết ra sao?
Mức phạt tiền không nộp báo cáo sử dụng lao động bao nhiêu?
Được biết, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về trường hợp chậm nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động. Tuy nhiên trường hợp, chậm nộp được xem là không thực hiện báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP sẽ bị xử phạt từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.
Cụ thể, hành vi không nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động trước 5/6/2026 bị xử phạt theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định 12/2022/NĐ-CP như sau:
Vi phạm về tuyển dụng, quản lý lao động
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:
... Không nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động trước 5 6
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
...
c) Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định;
...
Theo đó, hành vi không nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động trước 5/6/2026 người lao động có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Lưu ý: Mức phạt tiền nêu trên là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân (Khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP)
Năm 2026, quy định về Báo cáo sử dụng lao động thế nào?
Việc báo cáo sử dụng lao động 2026 hiện nay được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 145/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 73 Nghị định 35/2022/NĐ-CP và thực hiện theo Điều 71 Nghị định 129/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 (VB hết hiệu lực: 01/03/2027). Cụ thể như sau:
(1) Người sử dụng lao động khai trình việc sử dụng lao động theo Nghị định 122/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định về phối hợp, liên thông thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, khai trình việc sử dụng lao động, cấp mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, đăng ký sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp.
(2) Định kỳ 06 tháng (trước ngày 05 tháng 6) và hằng năm (trước ngày 05 tháng 12), người sử dụng lao động phải báo cáo tình hình thay đổi lao động đến Sở Nội vụ thông qua cổng Dịch vụ công Quốc gia theo Mẫu số 01/PLI và thông báo đến cơ quan bảo hiểm xã hội khu vực nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện. Trường hợp người sử dụng lao động không thể báo cáo tình hình thay đổi lao động thông qua cổng Dịch vụ công Quốc gia thì gửi báo cáo bằng bản giấy theo Mẫu số 01/PLI đến Sở Nội vụ và thông báo đến cơ quan bảo hiểm xã hội khu vực nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện. Đối với lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu kinh tế, người sử dụng lao động phải báo cáo tình hình thay đổi lao động đến Sở Nội vụ, cơ quan bảo hiểm xã hội khu vực nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện và Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế để theo dõi.
Sở Nội vụ có trách nhiệm tổng hợp tình hình thay đổi về lao động trong trường hợp người sử dụng lao động gửi báo cáo bằng bản giấy để cập nhật đầy đủ thông tin theo Mẫu số 02/PL.
(3) Đối với khu công nghệ cao, việc báo cáo sử dụng lao động thực hiện như sau: Người sử dụng lao động báo cáo tình hình thay đổi lao động đến Sở Nội vụ và Xã hội và Ban quản lý khu công nghệ cao thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Trường hợp người sử dụng lao động không thể báo cáo tình hình thay đổi lao động thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia thì gửi báo cáo bằng bản giấy đến Ban quản lý khu công nghệ cao.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];