Chồng có phải cấp dưỡng cho vợ sau khi ly hôn cho đến khi vợ có việc làm nuôi sống được bản thân không? Mức cấp dưỡng hàng tháng là bao nhiêu và cấp dưỡng bằng cách nào?

Mai Hoàng Trúc Linh 1,783 lượt xem
08:57 | 16/02/2023
Bên có nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt cấp dưỡng trong những trường hợp nào? Chồng tôi nộp đơn ra tòa yêu cầu ly hôn. Từ khi lấy chồng đến nay tôi ở nhà làm nội trợ và chăm con nên không có thu nhập riêng. Tôi có nghe nói là ngoài việc cấp dưỡng nuôi con thì người chồng phải cấp dưỡng cho vợ một số tiền đến khi có việc làm nuôi sống được bản thân, có đúng vậy không?
Nội dung chính
  1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu như thế nào?
  2. Chồng có phải cấp dưỡng cho vợ sau khi ly hôn cho đến khi vợ có việc làm nuôi sống được bản thân không?
  3. Mức cấp dưỡng hàng tháng là bao nhiêu và cấp dưỡng bằng cách nào?
  4. Bên có nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt cấp dưỡng trong những trường hợp nào?

Nghĩa vụ cấp dưỡng được hiểu như thế nào?

Theo quy định tại Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:

"1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này và nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

Cấp dưỡng sau ly hôn

Cấp dưỡng sau ly hôn

Chồng có phải cấp dưỡng cho vợ sau khi ly hôn cho đến khi vợ có việc làm nuôi sống được bản thân không?

Căn cứ theo Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn như sau:

"Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình."

Như vậy, trường hợp của chị khi ly hôn nếu gặp khó khăn, túng thiếu vì từ khi lấy chồng đến nay chị ở nhà làm nội trợ và chăm con nên không có thu nhập riêng mà có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng thì chồng chị có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Mức cấp dưỡng hàng tháng là bao nhiêu và cấp dưỡng bằng cách nào?

Theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về mức cấp dưỡng như sau:

"1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Theo đó, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về phương thức cấp dưỡng như sau:

"Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên thì khi ly hôn chị có thể thỏa thuận với chồng về việc cấp dưỡng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần cho chị trong khi chờ có được việc làm, đến khi tự nuôi sống được bản thân. Nếu không thỏa thuận được thì chị có quyền yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

Bên có nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt cấp dưỡng trong những trường hợp nào?

Căn cứ tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng cụ thể như sau:

"Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
6. Trường hợp khác theo quy định của luật."

Theo đó nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định. Cụ thể, trường hợp chị có tài sản để tự nuôi mình hoặc sau khi ly hôn đã kết hôn hoặc trường hợp khác theo quy định của luật thì nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt.

Logo Thư viện Pháp luật
Mai Hoàng Trúc Linh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Pháp luật
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg là bao nhiêu?

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, xác định mục tiêu đến năm 2035 ra sao?

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, xác định mục tiêu đến năm 2035, hình thành mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; chuyển dịch phương thức quản lý xã hội theo hướng dưới đây.

Pháp luật
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg là bao nhiêu?

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg