Bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí đối với cán bộ, công chức, viên chức có được chia ra nhiều lần bồi thường không?

10:10 | 11/08/2026
Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định việc bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí được thực hiện 01 lần trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được quyết định. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp được chia thành nhiều lần bồi thường.
Nội dung chính
  1. Bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí đối với cán bộ, công chức, viên chức có được chia ra nhiều lần bồi thường không?
  2. Số tiền bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí được ghi ở đâu?
  3. Nguyên tắc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại được thực hiện ra sao?

Bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí đối với cán bộ, công chức, viên chức có được chia ra nhiều lần bồi thường không?

Theo quy định hiện nay tại Nghị định 267/2026/NĐ-CP thì cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí có thể được chia thành nhiều lần bồi thường thiệt hại, nhưng phải thuộc các trường hợp pháp luật cho phép.

Cụ thể, tại Điều 26 Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Thực hiện bồi thường, tạm hoãn thực hiện bồi thường
1. Người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phải thực hiện bồi thường một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định về bồi thường thiệt hại trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc nộp tiền bồi thường nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Số tiền bồi thường từ 15.000.000 đồng trở lên;
b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền bồi thường nhiều lần.
3. Thời hạn nộp tiền bồi thường thiệt hại nhiều lần không quá 12 tháng, kể từ ngày quyết định bồi thường thiệt hại có hiệu lực. Trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đang điều trị bệnh hiểm nghèo, gia đình gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế hoặc trường hợp đặc biệt khác thì người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại xem xét cho nộp nhiều lần trong thời hạn không quá 24 tháng.
4. Số lần nộp tiền bồi thường thiệt hại, mức nộp từng lần và thời điểm nộp từng lần do người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại quyết định trên cơ sở số tiền phải bồi thường, mức độ lỗi, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường. Quyết định về việc nộp tiền bồi thường nhiều lần phải bằng văn bản.
...

Theo đó, thông thường thì phải bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí 01 lần trong 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định về bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, quy định trên cho phép cán bộ, công chức, viên chức bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí trong nhiều lần, nếu như đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Số tiền bồi thường từ 15.000.000 đồng trở lên;

- Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền bồi thường nhiều lần.

>>XEM THÊM: Xác định thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công

>>XEM THÊM: Xác định thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát ngân sách nhà nước

Bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí đối với cán bộ, công chức, viên chức có được chia ra nhiều lần bồi thường không?

Bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí đối với cán bộ, công chức, viên chức có được chia ra nhiều lần bồi thường không? (Hình từ Internet)

Số tiền bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí được ghi ở đâu?

Căn cứ Điều 23 Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Trình tự, thủ tục xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Trình tự, thủ tục xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức gây ra được thực hiện đồng thời khi thực hiện trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Quyết định xử lý kỷ luật phải thể hiện rõ căn cứ xác định thiệt hại, mức độ lỗi, phạm vi trách nhiệm, số tiền bồi thường, thời hạn và phương thức thực hiện bồi thường.
2. Trường hợp người vi phạm được loại trừ, miễn trách nhiệm kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật thì người có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên cơ sở hồ sơ, tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, lỗi của người vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.
3. Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan và đề nghị xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước khi người có thẩm quyền quyết định.
4. Đối với các trường hợp không thuộc khoản 1 Điều này hoặc pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt phải được thể hiện tại kết luận, quyết định xử lý của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, cơ quan điều tra theo quy định pháp luật có liên quan.

Theo đó, trong quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức gây lãng phí có các nội dung sau:

- Căn cứ xác định thiệt hại,

- Mức độ lỗi,

- Phạm vi trách nhiệm,

- Số tiền bồi thường,

- Thời hạn và phương thức thực hiện bồi thường

Như vậy, số tiền bồi thường thiệt hại hành vi gây lãng phí được ghi ở trong quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Nguyên tắc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại được thực hiện ra sao?

Tại Điều 9 Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại như sau:

- Thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Nghị định này là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền theo một trong các cách xác định giá trị thiệt hại quy định tại Nghị định này hoặc quy định pháp luật có liên quan, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Thiệt hại phải được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

- Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.

- Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người có hành vi vi phạm, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm. Trường hợp không có căn cứ xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người.

- Việc xác định giá trị thiệt hại trong các vụ án hình sự thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan.

- Trường hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật chuyên ngành trong từng lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí có quy định về phương pháp xác định giá trị thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục hậu quả có tính chất tương tự thì cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán căn cứ quy định pháp luật đó để xác định giá trị thiệt hại khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

- Khi có đủ căn cứ xác định hành vi gây lãng phí và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này, cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán có thể sử dụng một hoặc một số cách xác định thiệt hại quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định 267/2026/NĐ-CP để xác định giá trị thiệt hại tương ứng với hậu quả của hành vi gây lãng phí.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nhựt Hào Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất