Báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong pháp luật bao nhiêu năm? Ai có thẩm quyền công nhận báo cáo viên của cơ quan thuộc Chính phủ?

Bùi Thị Thanh Sương 908 lượt xem
13:57 | 11/01/2024
Tôi có câu hỏi là báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong pháp luật bao nhiêu năm? Ai có thẩm quyền công nhận báo cáo viên của cơ quan thuộc Chính phủ? Mong nhận được câu trả lời sớm. Câu hỏi của anh H.P đến từ Bình Dương.
Nội dung chính
  1. Báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật bao nhiêu năm?
  2. Ai có thẩm quyền công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan thuộc Chính phủ?
  3. Báo cáo viên pháp luật không còn là cán bộ công chức có bị miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật không?

Báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật bao nhiêu năm?

Báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật bao nhiêu năm, thì theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 như sau:

Báo cáo viên pháp luật
1. Báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận để kiêm nhiệm thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Báo cáo viên pháp luật phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có uy tín trong công tác;
b) Có khả năng truyền đạt;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học luật và thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm; trường hợp không có bằng tốt nghiệp đại học luật, nhưng có bằng tốt nghiệp đại học khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.

Như vậy, theo quy định trên thì báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm nếu có bằng đại học luật, nếu có bằng đại học khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.

Báo cáo viên pháp luật

Báo cáo viên pháp luật phải có thời gian công tác trong pháp luật bao nhiêu năm? Ai có thẩm quyền công nhận báo cáo viên của cơ quan thuộc Chính phủ? (Hình từ Internet)

Ai có thẩm quyền công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan thuộc Chính phủ?

Ai có thẩm quyền công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan thuộc Chính phủ, thì theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 như sau:

Báo cáo viên pháp luật
3. Thẩm quyền quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật được quy định như sau:
a) Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận;
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận cấp tỉnh;
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận cấp huyện.
4. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật có quyền miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật. Cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp báo cáo viên pháp luật tổ chức rà soát, đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật.

Như vậy, theo quy định trên thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan thuộc Chính phủ.

Báo cáo viên pháp luật không còn là cán bộ công chức có bị miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật không?

Báo cáo viên pháp luật không còn là cán bộ công chức có bị miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật không, thì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Thông tư 10/2016/TT-BTP như sau:

Miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật
1. Các trường hợp miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật bao gồm:
a) Tự nguyện xin thôi làm báo cáo viên pháp luật vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do chính đáng khác;
b) Không còn là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc chuyển công tác khỏi cơ quan, tổ chức đã đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật;
c) Không còn đủ tiêu chuẩn quy định tại Khoản 2 Điều 35 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật;
d) Từ chối không thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo sự phân công của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp mà không có lý do chính đáng từ 03 lần trở lên;
đ) Thực hiện một trong các hành vi bị cấm quy định tại Điều 9 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật;
e) Bị Tòa án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật;
g) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Báo cáo viên pháp luật thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này, Thủ trưởng Bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan, tổ chức đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật có văn bản đề nghị miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật gửi đến Bộ Tư pháp (đối với báo cáo viên pháp luật Trung ương), Sở Tư pháp (đối với báo cáo viên pháp luật tỉnh), Phòng Tư pháp (đối với báo cáo viên pháp luật huyện) và thông báo cho báo cáo viên pháp luật biết lý do.

Như vậy, theo quy định trên báo cáo viên pháp luật không còn là cán bộ công chức thì bị miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật.

Logo Thư viện Pháp luật
Bùi Thị Thanh Sương Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Pháp luật
Điều chỉnh đề thi tốt nghiệp; thu gọn phương thức xét tuyển trong tuyển sinh đại học

(Chinhphu.vn) - Bộ GDĐT sẽ điều chỉnh đề thi tốt nghiệp để giảm áp lực thi cử, triệt tiêu động cơ sai phạm. Đồng thời thu gọn các phương thức xét tuyển tuyển sinh đại học theo lộ trình. Đến năm 2027, mỗi ngành đào tạo chỉ được áp dụng tối đa 3 phương thức xét tuyển. Đến năm 2028 sẽ rút gọn còn 1 phương thức xét tuyển phù hợp nhất.

Pháp luật
Bảng tổng sắp huy chương ASIAD 2026

(Chinhphu.vn) - Cập nhật số lượng và bảng xếp hạng huy chương của các đoàn thể thao tại Đại hội thể thao châu Á lần thứ 20 (ASIAD 2026). Ngày 22/9, Đoàn Thể thao Việt Nam đã giành được tấm Huy chương Vàng đầu tiên, xếp thứ 13 trên Bảng xếp hạng.

Bài viết mới nhất