Chỉ được thu phí đào tạo khi người lao động Việt Nam được bên nước ngoài tiếp nhận tuyển chọn ra sao?
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 22/2026/QH16) có hiệu lực từ 01/3/2027.
Tải về >> Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2026
Theo đó, tại khoản 8 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2026 sửa đổi bổ sung Điều 18 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020 như sau:
Doanh nghiệp dịch vụ được chủ động chuẩn bị nguồn lao động trước khi đăng ký hợp đồng cung ứng lao động theo nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường tiếp nhận và khả năng ký kết hợp đồng cung ứng lao động.
Doanh nghiệp dịch vụ ký kết bằng văn bản với người lao động về việc tham gia chuẩn bị nguồn lao động, trong đó phải có các nội dung sau đây:
- Mức phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các khoản thu khác (nếu có);
- Dự kiến thị trường, ngành, nghề, tiêu chuẩn, thời gian tuyền chọn;
- Cam kết việc ưu tiên tuyển chọn người lao động đã tham gia chuẩn bị nguồn lao động;
- Trách nhiệm của các bên trong trường hợp người lao động không được bên nước ngoài tiếp nhận lao động tuyển chọn hoặc chẩm dứt việc tham gia chuẩn bị nguồn lao động trước thời hạn.
Doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu phí đào tạo sau khi đáp ứng đủ 2 điều kiện:
(1) Người lao động đã được bên nước ngoài tiếp nhận tuyển chọn.
(2) Đã ký hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Đồng thời, tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi sửa đổi bổ sung Điều 7 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020 cũng bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cụ thể:
- Cấm lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, cung cấp thông tin sai sự thật, quảng cáo, tư vấn gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn khác nhằm lừa dối người lao động; lửa đảo để chiếm đoạt tài sản của người lao động; lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác;
- Thu tiền dịch vụ và các khoản thu từ người lao động không đúng quy định của pháp luật.
Theo đó, quy định mới đã siết chặt, minh bạch quy định về các khoản thu để giảm rủi ro tài chính cho người lao động, tránh tình trạng chưa chắc chắn được tuyển dụng và sang nước ngoài làm việc nhưng đã phải đóng các khoản phí cho doanh nghiệp dịch vụ. Ngoài ra cũng hạn chế tình trạng doanh nghiệp dịch vụ việc làm được tự ý thu những khoản khác không đúng quy định pháp luật.

Chỉ được thu phí đào tạo khi người lao động Việt Nam được bên nước ngoài tiếp nhận tuyển chọn theo quy định mới ra sao? (Hình từ Internet)
Mức phạt khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chưa được UBND cấp xã xác nhận từ 10/9/2026 là bao nhiêu?
Theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 128/2025/NĐ-CP, UBND cấp xã nơi thường trú của người lao động có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản việc đăng ký hợp đồng lao động của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Đồng thời, theo Điều 53 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt vi phạm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân liên quan khác, nếu người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động trực tiếp giao kết khi chưa có văn bản xác nhận việc đăng ký hợp đồng lao động của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người lao động sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Lưu ý: Mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân, mức phạt của tổ chức gấp 2 lần mức phạt cá nhân.
Những trường hợp nào người lao động được Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước hỗ trợ?
Theo Điều 67 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020.
Theo đó Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước hỗ trợ đối với người lao động trong trường hợp như:
- Người lao động phải về nước trước thời hạn do bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, ốm đau, bệnh tật đến mức không còn khả năng tiếp tục làm việc;
- Người lao động phải về nước trước thời hạn vì người sử dụng lao động ở nước ngoài giải thể, phá sản hoặc thu hẹp sản xuất do thiên tai, dịch bệnh, bất ổn chính trị, chiến tranh, suy thoái kinh tế hoặc vì lý do bất khả kháng khác;
- Người lao động phải về nước trước thời hạn do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định;
- Giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến người lao động trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Hỗ trợ thân nhân người lao động trong trường hợp người lao động chết, bị mất tích trong thời gian làm việc ở nước ngoài.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];