Bản án 89/2019/HS-ST ngày 20/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 89/2019/HS-ST NGÀY 20/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 07 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo: Tưởng Quang Dũng, sinh năm 1989, tại Hà Nội.

Nơi cư trú: thôn Điền Xá, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, T/p Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tưởng Quang Nghĩa, sinh năm 1963 và bà Phù Thị Lý, sinh năm 1966; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; tạm giữ, tạm giam: không; hiện bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

 - Người bị hại: Bà Phù Thị Lý, sinh 1966.

Nơi cư trú: thôn Điền Xá, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Ông Tưởng Quang Nghĩa, sinh 1963. Trú tại: thôn Điền Xá, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa, có mặt khi tuyên án.

Anh Tạ Văn Bình, sinh 1991. Trú tại: thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/4/2019, Tưởng Quang Dũng lợi dụng lúc bà Phù Thị Lý là mẹ của Dũng đi ra phía trước cổng nhà để dọn dẹp, Dũng lẻn vào phòng ngủ của bà Lý phát hiện có 01 túi xách bằng vải treo trên tường, kiểm tra bên trong Dũng thấy có 01 sợi dây chuyền vàng nên đã lấy trộm. Sau đó, Dũng tiếp tục kiểm tra giường và phát hiện 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã lấy và cất giấu trong người. Sau khi lấy trộm, Dũng bắt xe ôm đi đến cửa hàng vàng bạc Bình Yên tại thôn Xuân Bách, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội bán dây chuyền vàng cho anh Tạ Văn Bình (là quản lý cửa hàng vàng) với giá 10.710.000 đồng, rồi đi về nhà.

Tại kết luận định giá số 169/KL-HĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, UBND huyện Sóc Sơn kết luận: 01 (một) dây chuyền bản rỗng, kiểu mắt xoài, làm bằng vàng 24k, nặng 03 chỉ, mua mới năm 2015, có giá là: 03 chỉ x 3.635.000đồng/chỉ = 10.905.000 đồng.

Về dân sự: Sau khi sự việc bị phát hiện, anh Tạ Văn Bình đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra 01 dây chuyền mà Dũng trộm cắp. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại sợi dây chuyền cho bà Phù Thị Lý, bà Lý đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu gì. Anh Tạ Văn Bình có đơn đề nghị Tưởng Quang Dũng bồi thường cho anh số tiền 10.710.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 25/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo: Tưởng Quang Dũng về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Cũng như lời khai có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/4/2019, bị cáo đã lợi dụng lúc bà Lý không có ở trong nhà, lẻn vào phòng ngủ của bà Lý và lấy trộm 01 sợi dây truyền và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó bị cáo mang bán sợi dây truyền cho anh Bình với giá 10.710.000 đồng. Nay bị cáo cùng với gia đình đã bồi thường số tiền 10.710.000 đồng cho anh Bình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử mức án nhẹ nhất cho bị cáo.

Người bị hại bà Phù Thị Lý có mặt tại phiên tòa có lời trình bày:

Bà là mẹ nuôi của bị cáo Tưởng Quang Dũng, năm 1989 bà nhận nuôi bị cáo Dũng, đã làm thủ tục pháp lý đầy đủ và nuôi dưỡng Dũng đến tận bây giờ. Ngày 07/4/2019, bà phát hiện mất 01 dây chuyền bằng vàng, bà có hỏi Dũng có lấy không thì Dũng không thừa nhận, sau đó bà làm đơn trình báo lên cơ quan công an. Về nguôn gốc chiếc dây chuyền là tài sản riêng của hai vợ chồng bà mua năm 2015 với giá khoảng 11.000.000 đồng. Nay bà đã nhận lại tài sản bị mất, bà không có đề nghị gì về phần dân sự. Về phần hình sự bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, vì bị cáo Dũng là con của bà, do nhất thời phạm tội, Dũng đã nhận ra lỗi của mình, xin lỗi gia đình và rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đối với số tiền 10.710.000 đồng mà gia đình bà hoàn trả cho anh Bình là tài sản chung của gia đình trong đó có phần tài sản của bị cáo Dũng, gia đình bà đồng ý hoàn trả số tiền trên cho anh Bình và không có ý kiến gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Tưởng Quang Nghĩa vắng mặt tại phiên tòa có lời khai: Ông là bố nuôi của bị cáo Dũng, sự việc Dũng trộm cắp sợi dây chuyền như thế nào ông không biết. Quá trình điều tra, ông được thông báo Dũng là người thực hiện hành vi trộm cắp. Về nguồn gốc sợi dây chuyền là tài sản riêng của vợ chồng ông, nay gia đình ông đã nhận lại tài sản bị mất trộm không có ý kiến gì về phần dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Tạ Văn Bình có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa và trình bày.

Ngày 07/4/2019, anh có mua lại 01 dây chuyền của Dũng với giá 10.710.000 đồng. Khi mua Dũng không nói cho anh biết về nguồn gốc chiếc dây chuyền là do Dũng trộm cắp được. Anh đã giao lại chiếc dây chuyền cho cơ quan công an để phục vụ điều tra vụ án. Ngày 16/8/2019, gia đình bị cáo Dũng đã hoàn trả anh số tiền 10.710.000 đồng, anh đã nhận đủ và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt Tưởng Quang Dũng: mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về vật chứng: không có.

-Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích tư lợi nên ngày 07/4/2019, tại nhà bà Phù Thị Lý ở thôn Điền Xá, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Tưởng Quang Dũng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 dây chuyền của bà Phù Thị Lý có trị giá: 10.905.000 đồng. Hành vi lén lút chiếm đoạt 01 dây chuyền của Tưởng Quang Dũng đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Tưởng Quang Dũng về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án: tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần đưa ra truy tố, xét xử, tuy nhiên cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bộ luật quy định để có mức hình phạt tương xưng.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đó là những tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng”. Tuy nhiên Cơ quan điều tra xác minh, mức thu nhập của bị cáo thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: do người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt Tưởng Quang Dũng: 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Dũng cho UBND xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 89/2019/HS-ST ngày 20/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:89/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về