Bản án 27/2018/HS-ST ngày 12/06/2018 về tội gây rối trật tự công cộng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 27/2018/HS-ST NGÀY 12/06/2018 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Hôm nay vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 12 tháng 06 năm 2018. Tại sở TAND huyện Hòn Đất, có mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2018/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Văn A, sinh năm 1988.

Nơi ĐKTT: Ấp Vạn Thanh, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, Kiên Giang. Trình độ văn hoá: 02/12; Nghề nghiệp: Làm thuê

Con ông Mai Văn Hai và bà Thị Biên

Anh, chị, em ruột gồm: 07 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1992, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình.

Vợ: Trần Thị Kiều, sinh năm 1993

Con: 02 đứa, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, Tiền sự: Ngày 25/9/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù giam về tội Gây rối trật tự công cộng.

Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/02/2018 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Văn Danh, sinh năm 1977 có mặt

Địa chỉ: ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn , huyện Hòn Đất, Kiên Giang.

2. Nguyễn Văn Tân, sinh năm 1995 có mặt

Địa chỉ: 377 Quang Trung, Khu phố Rạch Giồng, P. Vĩnh Quang.TP.Rạch Giá, Kiên Giang.

Người làm chứng:

1. Trần Thị Nhí, sinh năm 1976. Vắng mặt

2. Danh Lộc, sinh năm 1975 vắng mặt

3. Vũ Quốc Phong, sinh năm 1977 vắng mặt

4. Danh Hoàng Sơn, sinh năm 1970 vắng mặt

5. Danh Thị Ngọc Giàu, sinh năm 1971 vắng mặt

6. Nguyễn Thị Cẩm Thúy, sinh năm 1978 vắng mặt

Cùng địa chỉ: ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn , huyện Hòn Đất, Kiên Giang.

7.Đỗ Thị Bảy, sinh năm 1950 vắng mặt

8.Trần Ngọc Thanh, sinh năm 1946 có mặt

9. Đoàn Thị Hiền , sinh năm 1973 vắng mặt

Cùng địa chỉ: Ấp Hòn Sóc, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

10. Huỳnh Văn Nhựt, sinh năm 1987 vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố Sư Nam,TT Hòn Đất, huyện Hòn Đất, Kiên Giang.

11. Danh Tượng, sinh năm 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố Đường Hòn, TT Hòn Đất, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 18/10/2016 Nguyễn Văn Tân, sinh năm 1995 ngụ tại377 Quang Trung khu phố Rạch Giồng phường Vĩnh Quang thành phố Rạch Giá cùng với Mai Văn A đến khu vực phía sau nhà ông Trần Ngọc Thanh tại ấp Hòn Sóc xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất xem đá gà. Lúc này có Lê Văn Danh tạm trú tại ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn , huyện Hòn Đất đến nhà ông Thanh, thì gặp Danh Quốc Hiệp ngụ tại 214/53/3 Quang Trung, phường Vĩnh Quang thành phố Rạch Giá. Danh thấy Hiệp thìđòi tiền Hiệp thiếu mấy ngày trước, sau đó xãy ra cự cãi với Hiệp. Lúc này A nói với Hiệp: “ Dánh chết mẹ nó đi” Hiệp liền dùng tay đánh nhiều cA trúng vào mặt của danh. Danh bị đánh liền bỏ chạy, thì Hiệp cùng với Lượm, Bé ( chưa xác định được họ, tên địa chỉ) tiếp tục đuổi đánh Danh, thì được bà Đỗ Thị Bãy can ngăn. Sau đó Danh đi về nhà ông Danh Lộc ngụ tại ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn , huyện Hòn Đất là nơi Danh tạm trú.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Danh thấy A, Tân cùng với Huỳnh Văn Nhựt; Danh Tượng, Trần Thanh Hải đi đến tiệm sửa xe Quốc Phong đối diện nhà ông Danh Lộc, thì danh lấy một cây búa đẽo ( giống búa bổ củi) và 01 cây kéo bằng kim loại đi đến chổ nhóm của A rồi đuổi đánh Nhựt, Nhựt liền bỏ chạy vào tiệm sửa xe Quốc Phong. Lúc này, A, Tân và 01 thanh niên ( chưa xác định được họ tên , địa chỉ) chạy đến chổ để dụng cụ sửa xe trong tiệm Quốc Phong. A lấy 01 cA tu vít dài khoảng 30 cm và 01 cây chìa khóa, Tân lấy 01 cA búa tròn bằng kim loại, còn tên thanh niên đi cùng cầm một cA búa dài khoảng 20 cm đi về hướng Danh. Danh Lộc thấy vậy liền can ngăn kéo Danh lại. A cầm tu vít và chìa khóa có thA độ hung hăng, la lớn: “ Đâm chết mẹ nó đi”. “ Mười thằng như mày cầm búa tao còn chưa sợ”. “ nhào vào tụi mầy đâm chết mẹ nó đi” Tân cầm cây búa tròn ném trúng trán phải của Danh, làm Danh té ngã bất tỉnh. Sau khi gây án, A cầm theo cây tu vit bỏ trốn cùng đồng bọn còn Danh được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên giang từ ngày 18/10/2016 đến ngày 24/10/2016 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 630/KL-PY ngày29/11/2016 và Kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung của Trung tâm pháp y Kiên Giang đã kết luận thương tích của Lê Văn Danh là 31%.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hòn Đất đã thu giữ:

- 01 cay búa tự chế bằng kim loại, đầu búa tròn dài 08 cm, đường kính 2,5 cm,cán búa tròn bằng kim loại dài 28 cm.

- 01 cA cần gật mở ốc bằng kim loại dài 24,6 cm đầu cần gật có gắn 01 ống điếu tròn dài 7,6 cm.

- 01 cA kéo bằng kim loại dài 17 cm nắm tay bọc lớp nhự màu đen.

- Riêng cây tu vít mà A cầm cơ quan cảnh sát điều tra truy tìm, nhưng không thu hồi được.

Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Văn Danh ý kiến:cho rằng bị cáo cùng với Tân gây thương tích cho anh. Nguyễn Văn Tân ý kiến: Thương tích của ông Danh là do chính Tân gây ra, Akhông có gây thương tích cho ông Danh.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thống nhất quan điểm Viện kiểm sát, không có ý kiến gì tranh luận.

Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 16/5/2018của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất đã truy tố bị cáo: Mai Văn A về tội: “ Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khỏan 01 điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Tại phiên tòa kiểm sát viên giử nguyên quan điểm truy tố, hành vi của Mai Văn A có hành vi la lớn tiếng, ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội : “ Gây rối trật tự công cộng”. Theo quy định tại khoản 01 điều 245 Bộ luật Hình sự 1999. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 245 điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Mai Văn A từ 03 đến 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩmtra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòn Đất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ nhận thức và biết rằng la lối, chưỡi bới gây mất trật trật tự là vi phạm pháp luật,nhưng vì để cổ vũ đánh nhau cho nên bị cáo vẫn cứ làm. Vào ngày 25/9/2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên giang xử phạt về tội gây rối trật tự công cộng,vừa được xóa án tích thì đến ngày 18/10/2016 bị cáo lại tham gia cổ vũ đánh nhau tiếp tục gây rối trật tự công cộng làm uyên náo cả khu vực. Đáng lẽ ra phải xét xử bị cáo ở khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Nhưng, do hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước 0 giờ ngày 01/01/2018 trước ngày BLHS 2015 có hiệu lực, áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì bị cáo chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 có khung hình phạt nhẹ hơn khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015.

Theo quy định tại khoản 1 điều 245 Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “ Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Như vậy, hành vi la lớn tiếng cổ vũ cho đánh nhau đã đủ dấu hiệu cấu thành tội: “ Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khỏan 01 điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

 [3] Tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009. Điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo: Mai Văn A từ 03 đến 06 tháng. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là hợp lý phù hợp với quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà viện kiểm sát đã truy tố.

Đối với trách nhiệm bồi thường thương tích của anh Lê Văn Danh đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2008/HSST ngày 21/5/2018 của TAND huyện Hòn Đất.

 [4] Tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn phải nuôi vợ và 02 con còn nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng trong vụ án đã được quyết định tại Bản án sơ thẩm số: 24/2018/HSST ngày 21/5/2018 của TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn A phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”

Áp dụng: Khỏan 01 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung 2009 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử Phạt: Bị cáo Mai Văn A 03 tháng 24 ngày tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/02/2018.( Bằng thời hạn tạm giam).

Áp dụng Điều 328 Bộ luật hình sự 2015 tuyên bố trả tự do cho bị cáo Mai Văn A tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng trong vụ án đã được quyết định tại Bản án sơ thẩm số: 24/2018/HSST ngày 21/5/2018 của TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Về án phí: Bị cáo nộp: 200.000 đồng án phí HSST.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


70
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về