Việc cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức nào?

Nguyễn Thị Hậu 154 lượt xem
09:09 | 19/06/2023
Cho tôi hỏi việc cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức nào? Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thẩm quyền quyết định cung cấp thông tin gì? Câu hỏi của anh Trung từ Thái Nguyên.
Nội dung chính
  1. Thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được phân loại như thế nào?
  2. Việc cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức nào?
  3. Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thẩm quyền quyết định cung cấp thông tin gì?

Thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được phân loại như thế nào?

Căn cứ Điều 5 Quy chế cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 16/QĐ-HĐQL năm 2008 quy định về phân loại thông tin như sau:

Phân loại thông tin
Thông tin được điều chỉnh bởi Quy chế này được phân loại như sau:
1. Thông tin hạn chế tiếp cận là những thông tin chỉ cung cấp cho những đối tượng nhất định; phạm vi đối tượng cung cấp đã được xác định cụ thể trong các văn bản chế độ; tài liệu; vật mang tin.
2. Thông tin lưu hành nội bộ: là những thông tin để phổ biến nghiệp vụ hoặc kinh nghiệm đang còn hiệu lực cho các đơn vị, cá nhân trong hệ thống NHPT, không thuộc Thông tin hạn chế tiếp cận.
Thông tin lưu hành nội bộ được NHPT đóng dấu hoặc in sẵn cụm từ “Lưu hành nội bộ” trên tài liệu, vật mang tin.
3. Thông tin khác là các thông tin không thuộc Thông tin hạn chế tiếp cận và Thông tin lưu hành nội bộ.

Như vậy, theo quy định thì thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được phân loại như sau:

(1) Thông tin hạn chế tiếp cận là những thông tin chỉ cung cấp cho những đối tượng nhất định; phạm vi đối tượng cung cấp đã được xác định cụ thể trong các văn bản chế độ; tài liệu; vật mang tin.

(2) Thông tin lưu hành nội bộ: là những thông tin để phổ biến nghiệp vụ hoặc kinh nghiệm đang còn hiệu lực cho các đơn vị, cá nhân trong hệ thống Ngân hàng Phát triển, không thuộc Thông tin hạn chế tiếp cận.

Thông tin lưu hành nội bộ được Ngân hàng Phát triển đóng dấu hoặc in sẵn cụm từ “Lưu hành nội bộ” trên tài liệu, vật mang tin.

(3) Thông tin khác là các thông tin không thuộc Thông tin hạn chế tiếp cận và Thông tin lưu hành nội bộ.

Việc cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức nào?

Thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được phân loại như thế nào? (Hình từ Internet)

Việc cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức nào?

Căn cứ Điều 8 Quy chế cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 16/QĐ-HĐQL năm 2008 quy định về hình thức cung cấp thông tin như sau:

Hình thức cung cấp thông tin
Thông tin được cung cấp dưới các hình thức sau:
1. Cung cấp thông tin bằng lời nói trực tiếp hoặc lời nói thông qua các thiết bị ghi âm, ghi hình hoặc các thiết bị khác có chức năng ghi âm.
2. Cung cấp thông tin bằng bản giấy in từ máy in, sao chụp, kể cả dạng ảnh chụp từ màn hình máy vi tính.
3. Cung cấp thông tin bằng file điện tử hoặc các thiết bị lưu trữ điện tử.
4. Các hình thức cung cấp thông tin khác.

Như vậy, theo quy định thì các hình thức cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam bao gồm:

(1) Cung cấp thông tin bằng lời nói trực tiếp hoặc lời nói thông qua các thiết bị ghi âm, ghi hình hoặc các thiết bị khác có chức năng ghi âm.

(2) Cung cấp thông tin bằng bản giấy in từ máy in, sao chụp, kể cả dạng ảnh chụp từ màn hình máy vi tính.

(3) Cung cấp thông tin bằng file điện tử hoặc các thiết bị lưu trữ điện tử.

(4) Các hình thức cung cấp thông tin khác.

Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thẩm quyền quyết định cung cấp thông tin gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 7 Quy chế cung cấp thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 16/QĐ-HĐQL năm 2008 quy định về thẩm quyền quyết định cung cấp thông tin như sau:

Thẩm quyền quyết định cung cấp thông tin
1. Tổng Giám đốc có thẩm quyền quyết định cung cấp toàn bộ các thông tin về hoạt động của NHPT.
2. Phó Tổng Giám đốc quyết định việc cung cấp Thông tin hạn chế tiếp cận, Thông tin lưu hành nội bộ quy định tại Điều 5 Quy chế này theo lĩnh vực phụ trách.
3. Thủ trưởng các Đơn vị quyết định việc cung cấp các thông tin hạn chế tiếp cận, thông tin lưu hành nội bộ do chính Đơn vị quy định (nếu Tổng Giám đốc cho phép Đơn vị quy định hoặc Tổng Giám đốc có quy định cụ thể). Việc cung cấp thông tin hạn chế tiếp cận, thông tin lưu hành nội bộ do các đơn vị thuộc Hội sở chính quy định phải được người có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này quyết định, trừ trường hợp Tổng Giám đốc có quy định khác.
4. Hội đồng quản lý NHPT thực hiện cung cấp thông tin theo Quy chế làm việc của Hội đồng quản lý.
5. Ban Kiểm soát NHPT thực hiện cung cấp thông tin theo Quy chế làm việc của Ban Kiểm soát.

Như vậy, theo quy định thì Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thẩm quyền quyết định cung cấp toàn bộ các thông tin về hoạt động của Ngân hàng Phát triển.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Hậu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tiền tệ - Ngân hàng Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Khám sức khỏe theo Thông tư 25 bao nhiêu tiền? Quy định khám sức khỏe định kỳ cho người lao động mới nhất 2026 ra sao?

Thông tư 25/2026/TT-BYT không quy định một mức giá khám sức khỏe định kỳ trọn gói áp dụng chung cho tất cả cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Chi phí thực tế phụ thuộc vào cơ sở khám, nội dung khám và các dịch vụ kỹ thuật được chỉ định. Từ năm 2026, quy định về khám sức khỏe định kỳ cho người lao động được thực hiện theo Thông tư 32/2023/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 25/2026/TT-BYT.