Tổng hợp điểm mới Luật Doanh nghiệp từ 1/7? Điểm mới của Luật Doanh nghiệp sửa đổi như thế nào?
Ngày 17/06/2025, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2022/QH15.
Theo đó, Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Dưới đây là tổng hợp một số điểm mới Luật Doanh nghiệp sửa đổi từ 1/7/2025:
(1) Sửa đổi, bổ sung một số khái niệm:
Gồm các khái niệm về: "Cổ tức"; "Giá thị trường của phần vốn góp hoặc cổ phần"; "Giấy tờ pháp lý của cá nhân" được quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020
(2) Quy định mới về Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
- Bổ sung định nghĩa về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (tại khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, được bổ sung bởi điểm d khoản 1 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025)
- Doanh nghiệp có thêm nghĩa vụ là phải:
+ Thu thập, cập nhật, lưu giữ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp khi được yêu cầu.
+ Lưu giữ danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có).
(3) Sửa đổi, bổ sung quy định về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp
- Bổ sung trường hợp cán bộ, công chức, viên chức được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.
Cụ thể: tại điểm a khoản 6 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 quy định: "Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia."
Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có thể được thành lập, quản lý doanh nghiệp.
- Sửa trường hợp tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại điểm a khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 (được sửa đổi bởi điểm b khoản 6 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025):
"Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng"
(4) Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải nộp thêm danh sách chủ sở hữu
Cụ thể đối với hồ sơ đăng ký công ty hợp danh; hồ sơ đăng ký công ty trách nhiệm hữu hạn phải nộp thêm "Danh sách thành viên; danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có)"; đối với hồ sơ đăng ký công ty cổ phần phải nộp thêm "Danh sách cổ đông sáng lập; danh sách cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài; danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có)"
(5) Bãi bỏ hình thức đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số và tài khoản đăng ký kinh doanh
Các quy định về sử dụng chữ ký số, tài khoản đăng ký kinh doanh để thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại khoản 3, 4 Điều 26 Luật Doanh nghiệp 2020 đã bị bãi bỏ bởi điểm a khoản 12 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025.
(6) Sửa đổi trường hợp phải thực hiện thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp
Theo khoản 13 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 thì doanh nghiệp phải thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi có thay đổi một trong các nội dung sau đây:
- Ngành, nghề kinh doanh;
- Cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần, trừ trường hợp đối với công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán;
- Thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, trừ trường hợp đối với công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán;
- Nội dung khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.
(7) Điều chỉnh quy định về giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần
Quy định công ty cổ phần có thể giảm vốn điều lệ tại điểm a khoản 5 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020 được điều chỉnh bởi khoản 17 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 như sau:
Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh từ 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp không kể thời gian đăng ký tạm ngừng kinh doanh và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông.
(8) Sửa đổi quy định về chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh
Tại khoản 1 Điều 213 Luật Doanh nghiệp 2020 (được sửa đổi bởi khoản 24 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025) như sau:
Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp được chấm dứt hoạt động theo quyết định của chính doanh nghiệp đó hoặc theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
(9) Việc bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2025
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 có quy định:
"Đối với doanh nghiệp được đăng ký thành lập trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có), thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có) được thực hiện đồng thời tại thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp gần nhất, trừ trường hợp doanh nghiệp có yêu cầu bổ sung thông tin sớm hơn."
Tức là không bắt buộc doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/7/2025 phải bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có).
Việc bổ sung này được thực hiện nếu doanh nghiệp có yêu cầu hoặc thực hiện đồng thời tại thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp gần nhất.

Tổng hợp điểm mới Luật Doanh nghiệp từ 1/7? Điểm mới của Luật Doanh nghiệp sửa đổi như thế nào? (Hình từ Internet)
Luật Doanh nghiệp sửa đổi có ảnh hưởng gì đến quyền của doanh nghiệp không?
Căn cứ Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định như sau:
Quyền của doanh nghiệp
1. Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm.
2. Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.
3. Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.
4. Tự do tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng.
5. Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.
6. Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
7. Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
8. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.
9. Từ chối yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân về cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.
10. Khiếu nại, tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
11. Quyền khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, có thể thấy quyền của doanh nghiệp được quy định tại Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn giữ nguyên (không sửa đổi, bổ sung). Cũng tức là Luật Doanh nghiệp sửa đổi không ảnh hưởng gì đến quyền của doanh nghiệp.
Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp như thế nào?
Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp được quy định tại Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:
(1) Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.
(2) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.
(3) Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.
Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản. Việc thanh toán, bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];