Thỏa thuận không thành giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu thì có cần thẩm định lại giá khởi điểm đó hay không?

Trần Hồng Oanh 2,240 lượt xem
08:38 | 02/07/2022
Tôi muốn hỏi trường hợp thỏa thuận không thành giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu thì có cần thẩm định lại giá khởi điểm đó hay không? Doanh nghiệp nào có thẩm quyền thẩm định giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu? Sau khi thẩm định, việc xác định giá khởi điểm dựa trên kết quả thẩm định đó được thực hiện như thế nào?
Nội dung chính
  1. Công ty Quản lý tài sản không thỏa thuận được với bên bảo đảm về giá khởi điểm thì có cần thẩm định lại giá khởi điểm đó hay không?
  2. Doanh nghiệp nào có thẩm quyền thẩm định giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu?
  3. Giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu được xác định như thế nào dựa trên kết quả thẩm định giá?

Công ty Quản lý tài sản không thỏa thuận được với bên bảo đảm về giá khởi điểm thì có cần thẩm định lại giá khởi điểm đó hay không?

Căn cứ Điều 4 Nghị định 61/2017/NĐ-CP có quy định những trường hợp phải thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảo của khoản nợ xấu như sau:

"Điều 4. Những trường hợp phải thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu
1. Khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt mà khi xác định giá khởi điểm để đấu giá, Công ty Quản lý tài sản không thỏa thuận được với tổ chức tín dụng bán nợ về giá khởi điểm.
2. Khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị thị trường.
3. Tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu mà khi xác định giá khởi điểm để đấu giá, Công ty Quản lý tài sản không thỏa thuận được với bên bảo đảm về giá khởi điểm."

Như vậy, trong trường hợp công ty quản lý tài sản và bên bảo đảm về giá khởi điểm không thỏa thuận được với nhau về giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu thì cần tiến hành thẩm định lại giá khởi điểm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thẩm định giá khởi điểm của tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

Thẩm định giá khởi điểm của tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (Hình từ Internet)

Doanh nghiệp nào có thẩm quyền thẩm định giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu?

Tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 61/2017/NĐ-CP có quy định về việc lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá như sau:

"Điều 5. Lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá thực hiện thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu
[...]
3. Lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này:
a) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, Công ty Quản lý tài sản thỏa thuận với bên bảo đảm về việc lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá;
b) Trường hợp không thỏa thuận được với bên bảo đảm về việc lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá, Công ty Quản lý tài sản thông báo công khai về việc thuê doanh nghiệp thẩm định giá ít nhất 07 ngày làm việc trên Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Trang thông tin điện tử của Công ty Quản lý tài sản để các doanh nghiệp thẩm định giá đăng ký tham gia. Công ty Quản lý tài sản quyết định lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá theo các nguyên tắc quy định tại khoản 4 Điều này."

Theo đó, công ty quản lý tài sản thỏa thuận với bên bảo đảm về việc lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá. Trường hợp không thỏa thuận được sẽ chọn ra từ những doanh nghiệp thẩm định giá đăng ký tham gia trên Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Giá khởi điểm của tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu được xác định như thế nào dựa trên kết quả thẩm định giá?

Căn cứ Điều 7 Nghị định 61/2017/NĐ-CP có quy định như sau:

"Điều 7. Sử dụng kết quả thẩm định giá để xác định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu
1. Trường hợp phải thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại Điều 4 Nghị định này, Công ty Quản lý tài sản quyết định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi bán đấu giá lần đầu theo nguyên tắc giá khởi điểm không thấp hơn giá khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo kết quả thẩm định giá.
2. Trường hợp bán đấu giá khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại khoản 1 Điều này không thành:
a) Đối với bán đấu giá khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị thị trường, Công ty Quản lý tài sản quyết định giá khởi điểm của khoản nợ xấu. Trường hợp Công ty Quản lý tài sản quyết định giảm giá khởi điểm, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đấu giá không thành liền trước đó;
b) Đối với bán đấu giá khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt, trong trường hợp tiếp tục bán đấu giá, Công ty Quản lý tài sản thỏa thuận lại với tổ chức tín dụng bán nợ về giá khởi điểm của khoản nợ xấu. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định tiếp tục bán đấu giá mà không thỏa thuận được với tổ chức tín dụng bán nợ, Công ty Quản lý tài sản quyết định giá khởi điểm của khoản nợ xấu. Trường hợp Công ty Quản lý tài sản quyết định giảm giá khởi điểm, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đấu giá không thành liền trước đó;
c) Đối với bán đấu giá tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, trong trường hợp tiếp tục bán đấu giá, Công ty Quản lý tài sản thỏa thuận lại với bên bảo đảm về giá khởi điểm của tài sản bảo đảm. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày quyết định tiếp tục bán đấu giá mà không thỏa thuận được với bên bảo đảm, Công ty Quản lý tài sản quyết định giá khởi điểm của tài sản bảo đảm. Trường hợp Công ty Quản lý tài sản quyết định giảm giá khởi điểm, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đấu giá không thành liền trước đó."

Như vậy, pháp luật hiện hành quy định cụ thể những trường hợp cần thẩm định lại giá khởi điểm đối với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu. Việc lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá khởi điểm cũng như xác định giá khởi điểm dựa trên kết quả thẩm định giá cũng được quy định cụ thể như trên.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Hồng Oanh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thương mại Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Nga miễn visa 30 ngày cho công dân Việt Nam

Ngày 12.10.2026, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ban hành chính sách miễn thị thực cho công dân Việt Nam trong thời hạn một năm, từ ngày 15.10.2026 đến hết ngày 15.10.2027. Với bước đột phá này, Việt Nam trở thành quốc gia thứ 12 có công dân được miễn thị thực nhập cảnh vào Liên bang Nga.