Số định danh cá nhân đã bị hủy theo quy định có được sử dụng lại để cấp cho công dân khác hay không?

Nguyễn Thị Hậu 168 lượt xem
12:21 | 15/07/2023
Cho tôi hỏi khi công dân có yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân thì ai có trách nhiệm cấp văn bản thông báo? Số định danh cá nhân đã bị hủy theo quy định có được sử dụng lại để cấp cho công dân khác hay không? Câu hỏi của anh Vỹ từ Hà Nội.
Nội dung chính
  1. Khi công dân có yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân thì ai có trách nhiệm cấp văn bản thông báo?
  2. Số định danh cá nhân đã bị hủy theo quy định có được sử dụng lại để cấp cho công dân khác hay không?
  3. Ai có trách nhiệm quyết định việc xác lập lại số định danh cá nhân trong trường hợp công dân cải chính năm sinh?

Khi công dân có yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân thì ai có trách nhiệm cấp văn bản thông báo?

Căn cứ khoản 2 Điều 5 Thông tư 59/2021/TT-BCA quy định như sau:

Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
...
2. Khi công dân có yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân và thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì công dân hoặc người đại diện hợp pháp của công dân yêu cầu Công an cấp xã nơi công dân đăng ký thường trú cấp văn bản thông báo.
3. Mẫu Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này) được in trực tiếp từ hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Công dân sử dụng Thông báo này để chứng minh nội dung thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Như vậy, theo quy định, khi công dân có yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân thì Công an cấp xã nơi công dân đăng ký thường trú có trách nhiệm cấp văn bản thông báo.

Số định danh cá nhân đã bị hủy theo quy định có được sử dụng lại để cấp cho công dân khác hay không?

Khi công dân có yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân thì ai có trách nhiệm cấp văn bản thông báo? (Hình từ Internet)

Số định danh cá nhân đã bị hủy theo quy định có được sử dụng lại để cấp cho công dân khác hay không?

Căn cứ khoản 2 Điều 12 Luật Căn cước công dân 2014 quy định về số định danh cá nhân như sau:

Số định danh cá nhân
1. Số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dùng để kết nối, cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
2. Số định danh cá nhân do Bộ Công an thống nhất quản lý trên toàn quốc và cấp cho mỗi công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác.
3. Chính phủ quy định cấu trúc số định danh cá nhân; trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân.

Đồng thời, căn cứ khoản 3 Điều 6 Thông tư 59/2021/TT-BCA quy định về hủy, xác lập lại số định danh cá nhân như sau:

Hủy, xác lập lại số định danh cá nhân
...
3. Thủ trưởng cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an có trách nhiệm xem xét, quyết định việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân đối với trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Sau khi quyết định hủy, xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an phải cập nhật số định danh cá nhân mới cho công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Số định danh cá nhân đã bị hủy được lưu vào dữ liệu thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và không được sử dụng để cấp cho công dân khác.
4. Công an cấp xã nơi công dân đăng ký thường trú gửi thông báo bằng văn bản cho công dân về số định danh cá nhân mới được xác lập lại.
...

Như vậy, theo quy định thì số định danh cá nhân được cấp cho mỗi công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác.

Trường hợp, số định danh cá nhân đã bị hủy thì được lưu vào dữ liệu thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và không được sử dụng để cấp cho công dân khác.

Ai có trách nhiệm quyết định việc xác lập lại số định danh cá nhân trong trường hợp công dân cải chính năm sinh?

Căn cứ các khoản 1, 3 Điều 6 Thông tư 59/2021/TT-BCA quy định về hủy, xác lập lại số định danh cá nhân như sau:

Hủy, xác lập lại số định danh cá nhân
1. Trường hợp xác lập lại số định danh cá nhân do công dân được xác định lại giới tính hoặc cải chính năm sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch thì Công an cấp xã nơi công dân đăng ký thường trú yêu cầu công dân đó cung cấp giấy tờ, tài liệu hộ tịch chứng minh việc đã được xác định lại giới tính hoặc cải chính năm sinh để kiểm tra, xác minh, bổ sung vào hồ sơ quản lý và gửi yêu cầu đề nghị xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân lên cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an.
...
3. Thủ trưởng cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an có trách nhiệm xem xét, quyết định việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân đối với trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Sau khi quyết định hủy, xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an phải cập nhật số định danh cá nhân mới cho công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Số định danh cá nhân đã bị hủy được lưu vào dữ liệu thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và không được sử dụng để cấp cho công dân khác.
...

Như vậy, theo quy định, trường hợp công dân cải chính năm sinh thì Thủ trưởng cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an sẽ có trách nhiệm xem xét, quyết định việc xác lập lại số định danh cá nhân.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Hậu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.

Pháp luật
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg là bao nhiêu?

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Hướng dẫn kê khai chủ sở hữu hưởng lợi trên dangkyquamang dkkd gov vn như thế nào? Chi tiết từng bước thực hiện ra sao?

Kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp là thủ tục bắt buộc đối với việc đăng ký thành lập doanh nghiệp hiện nay hoặc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp đối với những doanh nghiệp thành lập trước 1/7/2025. Sau đây là chi tiết cách kê khai chủ sở hữu hưởng lợi.

Pháp luật
Trắc đạc công trình là gì theo Nghị định 207? Thực hiện trắc đạc công trình theo Nghị định 207/2026/NĐ-CP là trách nhiệm của ai?

Nghị định 207/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026. Theo đó, khái nhiệm "Trắc đạc công trình" được giải thích tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 207/2026/NĐ-CP.