Nộp trễ báo cáo PCCC định kỳ 6 tháng có bị phạt không? Mức phạt khi nộp trễ báo cáo PCCC định kỳ là bao nhiêu?
Nộp trễ báo cáo PCCC định kỳ 6 tháng có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định 106/2025/NĐ-CP.
Cụ thể, căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định 106/2025/NĐ-CP vi phạm quy định kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy như sau:
Vi phạm quy định kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
...
b) Gửi báo cáo kết quả thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ của cơ sở không đúng thời hạn;
c) Không thực hiện yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ tại văn bản kiến nghị để cơ sở khắc phục những tồn tại, hạn chế.
...
Như vậy, nếu nộp trễ báo cáo PCCC định kỳ 6 tháng theo thời hạn quy định thì có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Lưu ý: Mức phạt tiền quy định trên áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng một hành vi vi phạm hành chính. (Điều 4 Nghị định 106/2025/NĐ-CP)
Hộ gia đình, hộ kinh doanh, cộng đồng dân cư vi phạm áp dụng mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm hành chính.

Nộp trễ báo cáo PCCC định kỳ 6 tháng có bị phạt không? Mức phạt khi nộp trễ báo cáo PCCC định kỳ là bao nhiêu? (Hình từ Internet)
Thời hạn nộp báo cáo PCCC định kỳ 6 tháng là khi nào?
Căn cứ theo Điều 14 Nghị định 105/2025/NĐ-CP quy định như sau:
Trình tự, thủ tục kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy
1. Người đứng đầu cơ sở, chủ phương tiện giao thông, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ hộ gia đình, người thuê, mượn, ở nhờ nhà ở quyết định thời gian, phạm vi và hình thức ghi nhận kết quả tự kiểm tra thường xuyên đối với cơ sở, phương tiện giao thông, công trình xây dựng trong quá trình thi công, nhà ở, nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhưng không quá 01 tháng một lần.
2. Người đứng đầu cơ sở hoặc người được phân công thực hiện kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy tại cơ sở kiểm tra định kỳ: 06 tháng một lần đối với cơ sở thuộc Phụ lục II kèm theo Nghị định này, 01 năm một lần đối với các cơ sở còn lại thuộc Phụ lục I kèm theo Nghị định này, kết thúc kiểm tra lập biên bản theo Mẫu số PC02 kèm theo Nghị định này. Gửi báo cáo kết quả thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy của cơ sở theo Mẫu số PC04 kèm theo Nghị định này đến Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng trực tiếp quản lý hoặc cập nhật thông tin, dữ liệu trên hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy trước ngày 15 tháng 6 và trước ngày 15 tháng 12 hằng năm.
...
7. Người đứng đầu cơ sở, chủ hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo nội dung kiểm tra đã được thông báo hoặc cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ kiểm tra đột xuất, trực tiếp làm việc hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật cho người thuộc phạm vi quản lý làm việc với cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra.
Theo đó, thời hạn nộp báo cáo PCCC định kỳ 6 tháng là trước ngày 15 tháng 6 và trước ngày 15 tháng 12 hằng năm.
Người đứng đầu cơ sở, chủ hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình có thể trực tiếp làm việc hoặc ủy quyền để làm việc với cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra.
>> Tra cứu lịch âm năm 2026 - Lịch vạn niên 2026
Hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Nghị định 106?
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 106/2025/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 2 Nghị định 69/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ quy định như sau:
(1) Các hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ bao gồm:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền.
(2) Các hình thức xử phạt bổ sung trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ bao gồm:
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Tịch thu tang vật vi phạm hành chính;
- Tước quyền sử dụng giấy phép là văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy từ 06 tháng đến 12 tháng.
(3) Các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ bao gồm:
- Biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
- Các biện pháp khác được quy định cụ thể tại Nghị định 106/2025/NĐ-CP
(4) Thủ tục thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại giấy phép bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung:
- Người có thẩm quyền ra quyết định, cá nhân, tổ chức vi phạm có trách nhiệm thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại giấy phép bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
- Người có thẩm quyền ra quyết định thi hành biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 3 Nghị định 106/2025/NĐ-CP phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp giấy phép đó.
(5) Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm thực hiện việc tước quyền sử dụng giấy phép dưới dạng văn bản điện tử đã được cấp trước đó trên môi trường điện tử đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định tại khoản 6 Điều 15 Nghị định 106/2025/NĐ-CP trên môi trường điện tử.
Việc tước quyền sử dụng văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy được cập nhật trạng thái trên hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ do Bộ Công an xây dựng, quản lý và ứng dụng thông tin điện tử khác theo quy định.
(6) Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nhiều lần đối với một hành vi vi phạm trong một cơ sở thuộc diện quản lý về phòng cháy, chữa cháy thì không bị xử phạt từng hành vi vi phạm hành chính mà xử phạt một hành vi vi phạm hành chính áp dụng tình tiết tăng nặng.
(7) Tổ chức hoạt động trong phạm vi một cơ sở, tổ chức, cá nhân thuê, mượn, ở nhờ nhà ở sẽ bị xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định 106/2025/NĐ-CP tương ứng với trách nhiệm của tổ chức hoạt động trong phạm vi một cơ sở, tổ chức, cá nhân thuê, mượn, ở nhờ nhà ở theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
(8) Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo Nghị định này trên môi trường điện tử được áp dụng theo quy định tại Điều 28a và Điều 28b Nghị định 118/2021/NĐ-CP.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];