Những công việc cần làm khi kết thúc dự án đầu tư xây dựng? Phân chia dự án đầu tư xây dựng thế nào?

Nguyễn Thị Hậu 19,239 lượt xem
09:08 | 22/10/2026
Những công việc cần làm khi kết thúc dự án đầu tư xây dựng? Việc phân chia dự án đầu tư xây dựng thành các dự án thành phần được quy định thế nào? Dự án đầu tư xây dựng được phân loại dựa trên mấy tiêu chí?
Nội dung chính
  1. Việc phân chia dự án đầu tư xây dựng thành các dự án thành phần được quy định thế nào?
  2. Những công việc cần làm khi kết thúc dự án đầu tư xây dựng?
  3. Dự án đầu tư xây dựng được phân loại dựa trên mấy tiêu chí?

Việc phân chia dự án đầu tư xây dựng thành các dự án thành phần được quy định thế nào?

Căn cứ Điều 28 Nghị định 217/2026/NĐ-CP quy định về tách dự án thành phần, phân kỳ đầu tư như sau:

(1) Theo hình thức đầu tư, việc tách dự án thành phần, dự án thành phần độc lập, dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng độc lập phải tuân thủ quy định pháp luật về đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật có liên quan.

(2) Trường hợp tách dự án thành phần, dự án thành phần độc lập, dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng độc lập tại giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc lập đề xuất dự án, các dự án này được xác định tại quyết định hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án của cơ quan có thẩm quyền.

(3) Việc tách dự án thành phần, dự án thành phần độc lập trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, quyết định đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định, được quy định như sau:

- Việc tách dự án thành phần phải bảo đảm các yêu cầu nêu tại quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án hoặc quy định của pháp luật có liên quan (nếu có);

- Việc tách dự án thành phần phải bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về nội dung, cơ sở tính toán giữa các dự án thành phần, việc kết nối, vận hành của toàn bộ dự án;

- Đối với dự án thành phần độc lập phải đáp ứng yêu cầu về vận hành, khai thác độc lập và được quản lý như dự án độc lập. Quy mô dự án thành phần độc lập không thuộc trường hợp được lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.

Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, khu nhà ở, khu chức năng, trong các dự án thành phần độc lập phải có một dự án thành phần được lập cho toàn bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung của dự án và một số công trình xây dựng khác (nếu có).

(4) Việc phân kỳ đầu tư được thể hiện trong Báo cáo nghiên cứu khả thi và quyết định đầu tư xây dựng. Việc phân kỳ đầu tư phải phù hợp với thời gian thực hiện dự án và nội dung về phân kỳ đầu tư trong nội dung quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án (nếu có).

Trước đây, việc phân chia dự án đầu tư xây dựng thành các dự án thành phần được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 50 Luật Xây dựng 2014 (được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020) như sau:

- Dự án đầu tư xây dựng được phân chia thành các dự án thành phần khi mỗi dự án thành phần có thể vận hành, khai thác độc lập. Các dự án thành phần sau khi phân chia được quản lý như đối với dự án độc lập.

- Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, việc phân chia dự án thành phần được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công.

- Đối với các dự án còn lại, việc phân chia dự án thành phần do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án hoặc khi quyết định đầu tư xây dựng, bảo đảm các yêu cầu nêu tại quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng hoặc quy định của pháp luật có liên quan (nếu có), trừ trường hợp luật có quy định khác.

Những công việc cần làm khi kết thúc dự án đầu tư xây dựng? Phân chia dự án đầu tư xây dựng thế nào?

Việc phân chia dự án đầu tư xây dựng thành các dự án thành phần được quy định thế nào? (Hình từ Internet)

Những công việc cần làm khi kết thúc dự án đầu tư xây dựng?

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị định 217/2026/NĐ-CP thì giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc sau:

- Quyết toán hợp đồng xây dựng (nếu có), quyết toán vốn đầu tư xây dựng;

- Bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan;

- Các công việc cần thiết khác liên quan đến dự án.

Trước đây, căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định 15/2021/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 12 Nghị định 35/2023/NĐ-CP) quy định như sau:

Trình tự đầu tư xây dựng
1. Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Xây dựng năm 2014, được quy định cụ thể như sau:
a) Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án;
b) Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác;
c) Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác.

Theo đó, trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng gồm có 3 giai đoạn:

(1) Giai đoạn chuẩn bị dự án;

(2) Giai đoạn thực hiện dự án;

(3) Giai đoạn kết thúc xây dựng.

Cũng theo quy định này thì khi kết thúc dự án đầu tư xây dựng cần thực hiện các công việc sau đây:

- Quyết toán hợp đồng xây dựng,

- Quyết toán dự án hoàn thành,

- Xác nhận hoàn thành công trình,

- Bảo hành công trình xây dựng,

- Bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác.

Dự án đầu tư xây dựng được phân loại dựa trên mấy tiêu chí?

Căn cứ Điều 17 Luật Xây dựng 2025 quy định về phân loại dự án đầu tư xây dựng như sau:

(1) Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo hình thức đầu tư bao gồm:

- Dự án đầu tư công;

- Dự án PPP;

- Dự án sử dụng chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, vốn ngân sách nhà nước khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công thực hiện theo các quy định đối với dự án đầu tư công tại Luật này;

- Dự án đầu tư xây dựng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư, dự án đầu tư xây dựng khác không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 17 Luật Xây dựng 2025 (sau đây gọi là dự án đầu tư kinh doanh).

(2) Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, mức độ quan trọng bao gồm:

- Dự án quan trọng quốc gia; dự án do Quốc hội quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư;

- Dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công.

(3) Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo mục đích, công năng phục vụ.

Lưu ý: Chính phủ quy định chi tiết khoản (3) và việc phân loại để quản lý các hoạt động xây dựng đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài.

Trước đây, theo quy định tại Điều 49 Luật Xây dựng 2014 (được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020) thì dự án đầu tư xây dựng được phân loại dựa trên các tiêu chí sau đây:

- Theo quy mô, mức độ quan trọng;

- Theo công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý;

- Theo nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư.

Trong đó:

- Căn cứ quy mô, mức độ quan trọng, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công.

- Căn cứ công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau:

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng;

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp;

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật;

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông;

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn;

+ Dự án đầu tư xây dựng công trình quốc phòng, an ninh;

+ Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp khác.

- Căn cứ nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau:

+ Dự án sử dụng vốn đầu tư công;

+ Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công;

+ Dự án PPP;

+ Dự án sử dụng vốn khác.

Lưu ý: Dự án đầu tư xây dựng được sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau; có một hoặc nhiều công trình với loại và cấp khác nhau.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Hậu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Đầu tư Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Phân cấp công trình đối với công trình hồ chứa quặng đuôi như thế nào? Về năng lực của cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì như nào?

Công ty có phát sinh thực hiện thi công hồ chứa thải quặng đuôi, gồm phần đập và lòng hồ, công ty áp dụng tiêu chí của công trình thủy lợi để xác định cấp công trình của hồ chứa quặng đuôi được hay không? Người chủ trì, chủ nhiệm thiết kế có bắt buộc phải có chuyên môn về thủy lợi hay không?

Pháp luật
Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng chứng khoán hiện có và hủy bỏ giao dịch có bị xử phạt hành chính không?

Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng lớn hơn số lượng chứng khoán thực có. Sau khi phát hiện sai sót đã đề nghị Trung tâm lưu ký huỷ bỏ giao dịch đặt lệnh bán, đã được chấp nhận. Hành vi đặt nhầm bán số lượng trên có bị coi là hành vi bán khống chứng khoán, bị xử phạt hành chính hay không?