Người nhờ mang thai hộ có được hưởng chế độ thai sản hay không? Chế độ thai sản đối với người nhờ mang thai hộ như thế nào?

Trần Thành Nhân 451 lượt xem
17:12 | 06/06/2026
Gia đình anh có nhờ người mang thai hộ do hiến muộn, vậy Vợ anh có được hưởng chế độ thai sản trong trường hợp nhờ mang thai hộ hay không? Thủ tục để hưởng chế độ thai sản cho vợ anh như thế nào? Xin cám ơn.
Nội dung chính
  1. Người nhờ mang thai hộ có được hưởng chế độ thai sản hay không?
  2. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản cần chuẩn bị cho người mẹ nhờ mang thai hộ gồm những gì?
  3. Thời gian giải quyết hồ sơ hưởng chế độ thai sản cho người mẹ nhờ mang thai hộ như thế nào?

Người nhờ mang thai hộ có được hưởng chế độ thai sản hay không?

mangthaiho1

Người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ

Theo Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có quy định về chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ như sau:

"Điều 35. Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ
1. Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
2. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
3. Chính phủ quy định chi tiết chế độ thai sản, thủ tục hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ."

Từ căn cứ pháp luật trên thì vợ anh sẽ được hưởng chế độ thai sản kể từ thời điểm mà vợ chồng anh nhận con và vợ anh sẽ được hưởng chế độ cho tới khi con anh chị từ đủ 06 tháng tuổi.

Hồ sơ hưởng chế độ thai sản cần chuẩn bị cho người mẹ nhờ mang thai hộ gồm những gì?

Căn cứ khoản 4 Điều 5 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định về thủ tục hưởng chế độ thai sản đối với và người mẹ nhờ mang thai hộ như sau:

"Điều 5. Thủ tục hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ
(...)
4. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với người mẹ nhờ mang thai hộ khi lao động nữ mang thai hộ sinh con, bao gồm:
a) Bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 96 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; văn bản xác nhận thời điểm giao đứa trẻ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ;
b) Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;
c) Danh sách người lao động hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập;
d) Trong trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ chết thì có thêm bản sao giấy chứng tử;
đ) Trong trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con thì có thêm giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;
e) Trong trường hợp con chưa đủ 06 tháng tuổi bị chết thì có thêm bản sao giấy chứng tử của con.
(...)"

Thời gian giải quyết hồ sơ hưởng chế độ thai sản cho người mẹ nhờ mang thai hộ như thế nào?

Theo Khoản 6 và khoản 7 Điều 5 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định về thời gian giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với người mẹ nhờ mang thai hộ như sau:

"Điều 5. Thủ tục hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ
(....)
6. Giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội.
a) Người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại Điểm a Khoản 1, các Điểm a, b, d, đ, e và g Khoản 2 và các Điểm a, b, d, đ và e Khoản 4 và Khoản 5 Điều này cho người sử dụng lao động nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc.
Trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con, thời điểm nhận con thì nộp hồ sơ và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú.
b) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
c) Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao động. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con, thời điểm nhận con, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động.
Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
7. Việc giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội chậm so với thời hạn quy định được thực hiện theo quy định tại Điều 116 của Luật Bảo hiểm xã hội."

Như vậy sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ thì vợ anh cần nộp hồ sơ cho công ty, nơi mà vợ anh đanh làm việc. Khi nhận đủ hồ sơ công ty sẽ có trách nhiệm nộp hồ sơ của vợ anh lên cơ quan bảo hiểm xã hội để giải quyết, thời gian là 10 ngày làm việc kể từ khi cơ quan bảo hiểm xã hội nhận được đầy đủ hồ sơ

Đối với trường hợp giải quyết chế độ bảo hiểm chậm hơn so với thời hạn quy định mà gây ảnh hưởng đến vợ anh thì anh có thể yêu cầu cơ quan bảo hiểm xã hội bồi thường nếu lỗi do phía cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 như sau:

"Điều 116. Giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội chậm so với thời hạn quy định
(....)
2. Trường hợp nộp hồ sơ và giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội chậm so với thời hạn quy định, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp do lỗi của người lao động hoặc thân nhân của người lao động thuộc đối tượng được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội."
Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thành Nhân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Bảo hiểm Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào nghỉ hưu trước tuổi nhưng không bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng? Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động?

Người lao động nghỉ hưu trước tuổi sẽ bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng, tuy nhiên vẫn có trường hợp bị suy giảm khả năng lao động không bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu. Sau đây là quy định về trường hợp này.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Chính sách mới về tiền lương, trợ cấp, phụ cấp từ tháng 10/2026 như thế nào? Các văn bản pháp luật về tiền lương mới nhất?

Từ tháng 10/2026, nhiều chính sách mới liên quan đến tiền lương, phụ cấp, lương hưu và trợ cấp được áp dụng, đáng chú ý là Nghị định 381/2026/NĐ-CP về phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức cấp xã và Nghị định 335/2026/NĐ-CP về mức chuẩn trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội.

Pháp luật
TPHCM điều chỉnh giao thông nhiều tuyến đường từ 10/10/2026 phục vụ thi công Metro số 2 theo Thông báo 35704 ra sao?

TPHCM điều chỉnh giao thông từ 10/10/2026 trên đường Cách Mạng Tháng Tám, đường Nguyễn Thị Minh Khai, đường Sương Nguyệt Ánh, đường Bùi Thị Xuân và giao lộ Trường Chinh - Cách Mạng Tháng Tám - Lý Thường Kiệt - Hoàng Văn Thụ trong thời gian thi công dự án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành - Tham Lương, chi tiết dưới đây.

Pháp luật
Kế hoạch 302/KH-UBND Đào tạo trình độ tiến sĩ cho đội ngũ công, viên chức ngành giáo dục tại Hà Nội ra sao?

Dưới đây là nội dung Kế hoạch 302/KH-UBND năm 2026 Đào tạo trình độ Tiến sĩ cho đội ngũ công chức, viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Nội thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ làm nòng cốt chuyên môn cho các trường chuyên, trường chất lượng cao và Trường Đại học Thủ đô Hà Nội