Người mua lại tài sản bỏ quên của người khác có bị truy cứu về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không?

Trần Thành Nhân 1,085 lượt xem
20:30 | 13/07/2026
Tôi có mua một chiếc điện thoại trị giá 10 triệu. Sau đó, tôi làm rơi điện thoại tại Ngân hàng Y. Anh A là người nhặt được điện thoại của tôi và sau đó đã bán cho anh B với giá 7 triệu. Gần đây, tôi phát hiện điện thoại của tôi được anh B sử dụng và yêu cầu anh B trả lại. Tuy nhiên, anh B nhất quyết không trả điện thoại cho tôi. Vậy trong trường hợp trên, nếu tôi khởi kiện ra tòa án thì anh B có buộc phải trả lại điện thoại cho tôi không?
Nội dung chính
  1. Cá nhân có được phép sử dụng tài sản bỏ quên của người khác khi nhặt được hay không?
  2. Tài sản bỏ quên của cá nhân đã được đem đi mua bán thì cá nhân có quyền được đòi lại không?
  3. Người mua lại tài sản bỏ quên của người khác có bị truy cứu về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không?

Cá nhân có được phép sử dụng tài sản bỏ quên của người khác khi nhặt được hay không?

Căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc chiếm hữu tài sản bỏ quên khi nhặt được như sau:

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật
1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
...
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
...

Tuy nhiên tại Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định như sau:

Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên
1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.
2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
...

Theo đó, người nhặt được tài sản bỏ quên của người khác có quyền xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó nếu không xác định được chủ sở hữu.

Tuy nhiên người nhặt được tài sản phải giao nộp tài sản bỏ quên đó cho cơ quan công an tài sản đó.

Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì người nhặt được mới được phép xác lập quyền sở hữu

Như vậy, sau 01 năm mà không có người nhận tài sản khi đã giao nộp cho cơ quan công an thì người nhặt mới có quyền sử dụng tài sản bỏ quyền của người khác mà mình nhặt được.

Người mua lại tài sản bỏ quên của người khác có bị truy cứu về tội tiêu thụ tài sản người khác phạm tội mà có hay không?

Người mua lại tài sản bỏ quên của người khác có bị truy cứu về tội tiêu thụ tài sản người khác phạm tội mà có hay không?

Tài sản bỏ quên của cá nhân đã được đem đi mua bán thì cá nhân có quyền được đòi lại không?

Căn cứ Điều 167 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình như sau:

Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình
Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu."

Theo đó, điện thoại là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu và một người khác sở hữu chiếc điện thoại của bạn thông qua giao dịch với người nhặt được tài sản bỏ quyền của bạn

Như vậy, bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc B trả lại chiếc điện thoại cho bạn, đồng thời buộc A trả lại tiền cho B. Tuy nhiên, bạn phải chứng minh đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình do bị mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ý chí của mình.

Tất nhiên, trong tình huống này, người đang chiếm hữu ngay tình (anh B) cũng phải chứng minh căn cứ mà anh B chiếm hữu và có được chiếc điện thoại do mua từ anh A với giá 7 triệu là việc giao dịch mua bán hợp pháp nhưng trường hợp này chỉ áp dụng trong trường hợp anh B không biết rõ về nguồn gốc của chiếc điện thoại.

Người mua lại tài sản bỏ quên của người khác có bị truy cứu về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không?

Căn cứ Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội tiêu thụ tài sản người khác phạm tội mà có như sau:

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Theo quy định trên, nếu B biết rõ chiếc điện thoại đó là do anh A nhặt được của bạn nhưng A không trả lại cho bạn mà B vẫn cố tình mua thì hành vi của B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản người khác phạm tội mà có.

Mức phạt nhẹ nhất cho người phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trường hợp B không biết rõ về nguồn gốc của chiếc điện thoại thì không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thành Nhân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào áp dụng tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn? Phạm tội vì động cơ đê hèn có phải là tình tiết tăng nặng không?

Bộ luật Hình sự 2015 quy định tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn là một trong những nội dung cần xem xét khi quyết định bản án đối với người phạm tội. Vì đây có thể là tình tiết định khung hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Pháp luật
Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC trình tự, thủ tục tố tụng theo Nghị quyết 29 về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ra sao?

Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC Quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội như sau:

Bài viết mới nhất