Người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng thì có được hưởng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 không?

02:30 | 14/08/2025
Người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng thì có được hưởng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 không? Chế độ nghỉ thai sản của người lao động tại Bộ luật Lao động được quy định như thế nào?
Nội dung chính
  1. Người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng thì có được hưởng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 không?
  2. Chế độ nghỉ thai sản của người lao động tại Bộ luật Lao động được quy định như thế nào?
  3. Nguyên tắc áp dụng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 có nội dung thế nào?

Người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng thì có được hưởng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 không?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 13 Nghị định 76/2019/NĐ-CP có quy định như sau:

Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp
...
2. Cánh tính thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau:
a) Tính theo tháng:
Trường hợp có từ 50% trở lên thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo chế độ làm việc do cơ quan có thẩm quyền quy định thì được tính cả tháng; trường hợp có dưới 50% thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không tính;
Đối với nhà giáo đạt từ 50% định mức giờ giảng trong tháng trở lên thì được tính cả tháng; thời gian nghỉ hè được hưởng lương đối với nhà giáo theo chế độ quy định của cơ quan có thẩm quyền thì được tính hưởng phụ cấp thu hút và phụ cấp ưu đãi theo nghề.
b) Tính theo năm:
Dưới 03 tháng thì không tính;
Từ đủ 03 tháng đến đủ 06 tháng thì được tính bằng 1/2 (một phần hai) năm công tác;
Trên 06 tháng thì được tính bằng 01 năm công tác.
3. Thời gian không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định này, gồm:
a) Thời gian đi công tác, làm việc, học tập không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 01 tháng trở lên;
b) Thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên;
c) Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
d) Thời gian bị tạm đình chỉ công tác, thời gian bị tạm giữ, tạm giam.

Theo đó, thời gian không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định 76/2019/NĐ-CP, gồm:

- Thời gian đi công tác, làm việc, học tập không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 01 tháng trở lên;

- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên;

- Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;

- Thời gian bị tạm đình chỉ công tác, thời gian bị tạm giữ, tạm giam.

Do đó, nếu người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng sẽ không thuộc thời gian không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 76/2019/NĐ-CP.

Vì thế, người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng sẽ được tính thời gian làm việc thực tế để hưởng chế độ phụ cấp, trợ cấp theo quy định của tại Nghị định 76/2019/NĐ-CP.

Người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng thì có được hưởng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 không?

Người lao động đi làm lại trước thai sản 1 tháng thì có được hưởng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 không? (Hình từ Internet)

Chế độ nghỉ thai sản của người lao động tại Bộ luật Lao động được quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 có quy định như sau:

Theo đó, chế độ nghỉ thai sản của người lao động tại Bộ luật Lao động 2019 được pháp luật quy định, cụ thể:

(1) Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

(2) Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

(3) Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại mục (1), nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.

(4) Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại mục (1), lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

(5) Lao động nam khi vợ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Nguyên tắc áp dụng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76 có nội dung thế nào?

Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 76/2019/NĐ-CP có quy định như sau:

Theo đó, nguyên tắc áp dụng chế độ phụ cấp trợ cấp theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP có nội dung cụ thể như sau:

- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Nghị định 76/2019/NĐ-CP, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức cao nhất của chính sách đó.

- Trường hợp nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) thì thôi hưởng chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định 76/2019/NĐ-CP kể từ ngày nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn), trừ trường hợp quy định tại Điều 8 Nghị định 76/2019/NĐ-CP.

Logo Thư viện Pháp luật
Trịnh Kim Quốc Dũng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Lao động - Tiền lương Xem thêm

Bài viết mới nhất